Bài ca sự phạm - Tập 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Ngọc Nam (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:16' 29-01-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Phạm Ngọc Nam (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:16' 29-01-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Tác Phẩm: BÀI CA SƯ
PHẠM
Tập 1
Tác giả: A. X. MAKARENKÔ
NHÀ XUẤT BẢN: VĂN HÓA VIỆN VĂN HỌC
Năm xuất bản: 1962
Người dịch: HƯỚNG MINH dịch
Scan sách: Chợ Sách Cũ
Đánh máy:
kaoaye, sao truc,
haiauLucky,
lilypham,
tmrquan,
annie_tuongminh,
lathanhvien,
Lynk_xu, picicrazy, huynhnhukim,
lemontree123
Soát lỗi & Tạo prc: lemontree123
Nguồn: tve-4u.org
Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook www.dtv-ebook.com
Dịch theo bản dịch tiếng Pháp
POEME PEDAGOGIQUE của Jean
Chamenois (Nhà xuất bản Ngoại văn,
Mạc-tư-khoa, 1953), có tham khảo bản
dịch tiếng Trung-quốc của Hứa Lỗi
Nhiên (Nhân dân văn học xuất bản xã,
Bắc Kinh, 1959).
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NGƯỜI DỊCH
A. MAKARENKÔ (1888 – 1939)
1. NÓI CHUYỆN VỚI ÔNG GIÁM ĐỐC
SỞ GIÁO DỤC
2. NHỮNG BƯỚC ĐẦU KHÔNG VINH
QUANG CỦA TRẠI GORKI
3. ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỮNG NHU CẦU
CẦN THIẾT NHẤT
4. ĐẤU TRANH NỘI BỘ
5. VIỆC QUỐC GIA
6. CHIẾM ĐƯỢC CÁI THÙNG SẮT
7. XÂY DỰNG MỘT THẾ GIỚI THÌ
CŨNG PHẢI CÓ ĐỦ MỌI THỨ”
8. TÍNH CÁCH VÀ VĂN HÓA
9. ”Ở ĐẤT UKREN VẪN CÒN CÓ
NHỮNG TAY HẢO HÁN"
10. NHỮNG “CHIẾN SĨ GIÁO DỤC XÃ
HỘI”
11. THẮNG LỢI VỀ CÁI MÁY GIEO HẠT
12. BRATSENKÔ VÀ ÔNG ỦY VIÊN
CUNG CẤP LƯƠNG THỰC
13. ÔTXATSI
14. NHỮNG LỌ MỰC “TỎ TÌNH LÂN
MỤC”
15. “ĐỨA CỦA CHÚNG TA ĐẸP NHẤT”
16. “CHÁO YẾN MẠCH”
17. SARIN ĐƯỢC TRẢ NỢ
18. "LIÊN MINH" VỚI NÔNG DÂN
19. RÚT THĂM
20. SINH SÚC VÀ NÔNG CỤ
21. NHỮNG LÃO GIÀ TAI HẠI
22. CHẶT CHÂN TAY
23. NHỮNG HẠT GIỐNG CHỌN LỌC.
24. CON ĐƯỜNG ĐAU KHỔ CỦA
XÊMIÔN
25. MỘT LỐI SƯ PHẠM THẦY QUYỀN
26. NHỮNG QUÁI VẬT CỦA TRẠI THỨ
HAI
27. CHINH PHỤC ĐOÀN KÔMXÔMÔN
28. MỞ ĐẦU TIẾN HÀNH KHÚC
THẮNG LỢI
PHỤ LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Antôn Xêmiônôvich Makarenkô, nhà
giáo dục học vĩ đại của Liên-xô, xuất
thân từ một gia đình công nhân. Cha
mẹ ông đã phải chịu mọi sự thiếu thốn
để cho ông theo học. Thầy giáo của
ông, Kaminxki, một nhà giáo dục tiến
bộ, khuyến khích ông theo nghề dạy
học. Năm 17 tuổi, ông vào ngành giáo
dục, dạy học ngay ở xưởng làm việc
của cha. Học trò là con công nhân.
Cuộc thí nghiệm giáo dục đầu tiên
trong một tập thể công nhân - ở đó sau
này xuất hiện khá nhiều chiến sĩ
bônsêvích - đã đóng một vai trò quan
trọng trong những quan niệm sư phạm
của Makarenkô. Lúc đó là năm 1905.
Năm 1905, ông viết, một tiếng sấm làm
rung chuyển đất nước Nga. Ông đã
tham gia những cuộc mít tinh biểu tình
của công nhân, thường xuyên đọc tờ
báo bônsêvích "Cuộc sống mới", được
biết Maxim Gorki, mê say những tác
phẩm của Lênin, nhất là cuốn "Tổ chức
Đảng và văn học của Đảng". Năm 1914,
Makarenkô vào học ở học viên sư phạm
Pôntava và bắt đầu viết văn, làm thơ.
Năm 1917, tốt nghiệp sư phạm, ông trở
về thành phố quê hương dạy học.
Năm 1920, vì tình hình phản cách
mạng và sự can thiệp của nước ngoài,
nước Nga bị tàn phá, đói rét, hàng
ngàn trẻ lang thang trên các đường
phố, bám vào các toa tàu, phá phách
các chợ búa, nạn mãi dâm nghiêm
trọng. Nhà tù đầy thanh thiếu niên
phạm pháp. Làm thế nào cải tạo chúng,
đưa chúng trở lại cuộc sống bình
thường, tham gia vào xã hội mới?
Makarenkô là một trong những nhà
giáo dục được cử ra đảm nhiệm công
tác nặng nề đó. Và ông là nhà giáo dục
đầu tiên đã đặt vấn đề và giải quyết
vấn đề theo những phương hướng độc
đáo.
Mùa thu năm 1920, Ty Giáo dục
tỉnh Bôntapski ủy nhiệm Makarenkô
thành lập một công xã lao động gồm
các em phạm pháp chưa đến tuổi
trưởng thành, mang tên công xã Maxim
Gorki. Công xã này được mô tả lại
trong tác phẩm "Bài ca sư phạm". Năm
1927, Makarenkô xây dựng một công xã
lao động thứ hai, mô tả trong tác phẩm
"Những ngọn cờ trên tháp".
Năm 1934, Makarenkô trúng cử hội
viên Hội nhà văn Xô Viết và năm 1938,
tham gia lãnh đạo Ủy ban phụ trách
các công xã lao động ở Ukren. Ông là
một nhà văn có biệt tài, đại biểu cho
chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Tháng 2 năm 1939, ông được tặng
thưởng huân chương Lao động Cờ đỏ
vì thành tích rực rỡ và thành quả trong
việc phát triển văn học xô-viết.
Những
tác
phẩm
chính
của
Makarenkô gồm: Bài ca sư phạm,
Những ngọn cờ trên tháp, Tiến hành khúc
năm 1930, Cuốn sách của những người
làm cha mẹ, và rất nhiều bài diễn
giảng, những bài báo về giáo dục.
Có thể nói trong nền giáo dục học
thế giới, ngoài Usinxki ra, không có
một nhà lý luận và một nhà hoạt động
thực tiễn nào xuất sắc như Makarenkô.
Những tác phẩm của ông được dịch ra
hàng chục thứ tiếng trên thế giới.
Hiện nay ở Liên-xô, toàn bộ tác
phẩm của ông được ghi trong chương
trình học của tất cả các học viện sư
phạm, và có ảnh hưởng sâu sắc đối với
toàn bộ hệ thống giáo dục của Liên-xô.
Những tác phẩm của ông có tính tư
tưởng và tính nghệ thuật cao chính vì
ông đã miêu tả sâu sắc cuộc sống và
chính ông đã tham gia tích cực vào
cuộc sống đó.
"Bài ca sư phạm” là một trong
những tác phẩm của Makarenkô được
người đọc ham thích nhất. Tác phẩm
này cũng đã được dựng thành phim.
Bài ca sư phạm là gì?
Đó là bài ca chiến thắng của những
quan điểm giáo dục macxi - Lêninit.
Đó là thành công rực rỡ của
Makarenkô trong việc cải tạo hàng
ngàn trẻ lưu manh, tội lỗi, biến chúng
từ chỗ là "cặn bã” của xã hội trở thành
những công dân tích cực của xã hội xôviết: những người công nhân, những
nhà sử học, nhà địa chất, nhà giáo dục,
những kỹ sư, bác học, thầy thuốc, nghệ
sĩ; nhiều người được thưởng huân
chương, có người trở thành anh hùng
xô-viết.
Bài ca sư phạm thể hiện những quan
điểm cơ bản nhất về giáo dục của chủ
nghĩa Mác - Lênin. Có thể tóm tắt
những quan điểm cơ bản đó như sau:
Quan điểm thứ nhất, quan điểm
quan trọng nhất của Makarenkô, là “ý
niệm về con người, thái độ macxit đối
với con người”. Có thể coi quan điểm
này là quan điểm xuất phát, tư tưởng
giáo dục chỉ đạo của ông. Đó là lòng
nhân đạo xã hội chủ nghĩa đối với con
người. Makarenkô nói: “Tất cả hệ
thống giáo dục xô-viết nhằm thực hiện
khẩu hiệu của Xtalin về sự săn sóc
thương yêu đối với con người”. Theo
ông, khái niệm "trẻ hư hỏng” là một
điều vô nghĩa. Ông không công nhận có
trẻ xấu từ lúc lọt lòng mẹ, có trẻ phạm
tội mà không thể cứu chữa được."...
Khoa sư phạm bình thường, hoạt động
hướng theo một mục đích, sẽ biến đổi
tập thể trẻ con thành một tập thể rất
bình thường. Không có trẻ tội lỗi từ lúc
lọt lòng, không có trẻ mới sinh đã mang
tính xấu. Đối với tôi, theo kinh nghiệm
bản thân, điều nhận định này được
kiểm nghiệm đúng trăm phần trăm.”.
Thái độ của ông là một thái độ lạc
quan cách mạng. Chính những nhân vật
của Maxim Gorki đã giúp ông có được
thái độ lạc quan ấy. "Gorki lạc quan
không những vì thấy trước một nhân
loại sung sướng, không những vì thấy
hạnh phúc trong dông tố, mà còn vì đối
với Gorki mọi người đều đẹp. Đẹp
không những theo ý nghĩa luân lý và xã
hội, mà đẹp cả về mặt thẩm mỹ và sức
mạnh".
Vì vậy, theo Makarenkô, "nhà sư
phạm phải đi đến với từng người với
một giữ thuyết lạc quan, dù có phải lầm
lẫn chăng nữa". Cũng như Gorki, ông
từ chối không dựa trên những khía
cạnh tiêu cực và ốm yếu của con người.
Ông tìm ra ở mỗi trẻ, mặc dầu cảnh
ngộ bi đát tuyệt vọng đến thể nào, một
niềm hy vọng, một khía cạnh tích cực
để phát huy lên, làm nảy nở ra mọi tiến
bộ. Chính vì thương yêu con người, tôn
trọng con người nên phải yêu cầu ở
đứa trẻ càng nhiều càng tốt."Càng tôn
trọng con người bao nhiêu, càng yêu
cầu bấy nhiêu”. Yêu cầu đối với đứa trẻ
biểu thị sự tôn trọng đối với sức lực và
khả năng của nó. Và ngược lại, tôn
trọng bao hàm ý nghĩa phải đòi hỏi,
phải yêu cầu. Yêu cầu càng nhiều, đứa
trẻ càng tin ở khả năng của nó, càng
thấy tự hào. Bài ca sư phạm là một bức
tranh tuyệt đẹp, một bài thơ tuyệt diệu
về niềm tin tưởng ở bản chất tốt đẹp
của con người. Có đứa trẻ, trước kia đã
từng ăn cắp giết người, nay được
Makarenkô trao cho giữ súng, ủy nhiệm
cho đi lĩnh những món tiền rất lớn. Một
lần, vì thái độ hỗn láo quá đáng,
Makarenkô đánh Zađôrôp, một trong
những đứa cầm đầu. Về sau, nhiều lần
ông nhắc lại việc đó, cho đấy là dấu
hiệu về sự hoang mang và tuyệt vọng
cực độ của nhà giáo dục. Suốt đời, ông
chống lại chủ trương trừng phạt về thể
xác. Vì thế, ta không nên hiểu lầm sự
việc đó mà cho rằng khi cần thiết cũng
phải đánh trẻ.
Công xã lao động trong Bài ca sư
phạm mang tên Maxim Gorki và cuốn
tiểu thuyết kết thúc với cuộc đến thăm
công xã của Maxim Gorki nói lên ảnh
hưởng sâu sắc của Gorki đối với những
quan điểm sư phạm của Makarenkô.
Quan điểm thứ hai là “giáo dục
trong lao động”. Đây là nguyên lý cơ
bản nhất của nền giáo dục xã hội chủ
nghĩa, một nền giáo dục dựa trên học
thuyết Mác - Lênin. Trong thực tế cũng
như trong lý luận, Makarenkô chỉ rõ
rằng: lao động không những là mục
đích giáo dục mà còn là phương tiện
giáo dục. Hoạt động lao động của trẻ
trong công xã Gorki chiếm một vị trí
hết sức quan trọng, lao động tự phục vụ
và lao động sản xuất. Chính vì nắm
vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin về giáo dục, chính vì thực hiện
sự kết hợp giữa học lập và lao động
sản xuất trong các công xã lao động
nên Makarenkô ngay từ đầu đã thấy rõ
được những nét lớn về giáo dục kỹ
thuật tổng hợp. Phần cuối tác phẩm Bài
ca sư phạm cho biết Makarenkô lãnh
đạo một trại lao động thứ hai ở Ukren,
ông lập một trường phổ thông 10 năm,
một xưởng chế tạo máy ảnh Lâyka và
một xưởng chế tạo dụng cụ điện. Các
xưởng này giúp trại tự lập hoàn toàn.
Từ sản xuất nông nghiệp và thủ công
nghiệp đến sản xuất công nghiệp, đó là
bước tiến mới về mặt giáo dục kỹ thuật
tổng hợp.
Trước khi chết, ngày 9 tháng 3 năm
1939, phát biểu trong một cuộc dạ hội,
Makarenkô nói: "Tôi là người đứng về
phía các quá trình sản xuất trong nhà
trường, thậm chí quá trình sản xuất
đơn giản nhất, dễ tiến hành nhất, buồn
tẻ nhất. Tôi nghĩ rằng loại trường học
sản xuất như vậy, một thời gian nữa
chúng ta sẽ có,..”. Thí nghiệm của
Makarenkô trong các công xã lao động
giúp ích cho sự phát triển phương
hướng giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Đến
đại hội 19, rồi 20, 21 của Đảng Cộng
sản Liên-xô, nguyên lý giáo dục kỹ
thuật tổng hợp được phát triển thành
một hệ thống lý luận rất phong phú.
Nhưng Makarenkô là nhà giáo dục học
đầu tiên đã tìm ra cách áp dụng cụ thể
nguyên lý giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
Trẻ ở trong công xã lao động đã làm
quen dần với những nguyên lý chung về
kỹ thuật, về tổ chức sản xuất, về những
động tác đơn giản và cơ bản về sản
xuất nông nghiệp, về cơ khí và về điện
lực. Qua giáo dục lao động, nhiều trẻ
"tội lỗi” đã được cải tạo về tư tưởng và
về sau trở nên những nhà chuyên môn
giỏi, công nhân lành nghề, bác sĩ, kỹ
sư, phi công, bác học.
Không những trẻ hư hỏng cần được
cải tạo trong lao động mà trẻ bình
thường cũng cần được giáo dục trong
lao động, Không những nhà trường mà
cả gia đình cũng cần giáo dục thanh
thiếu niên qua công tác lao động từ
thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Quan điểm lao động là đức tính tốt đẹp
nhất là cơ sở của nền đạo đức xã hội
chủ nghĩa. Theo Makarenkô, trên đất
nước xô-viết, lao động phải là Lao
động sáng tạo, lao động tự giác, lao
động phải là hình thức biểu hiện chủ
yếu của cá tính và tài năng. Chính quá
trình tham giữ lao động sẽ rèn luyện
đạo đức xã hội chủ nghĩa, đoàn kết
chặt chẽ những người lao động, xây
dựng tình bạn chân chính. Cần giáo
dục trẻ chống tâm lý ỷ lại, đòi hỏi, ăn
sẵn. Người giáo viên xã hội chủ nghĩa
phải giáo dục những con người hăng
hái lao động, động viên thái độ sáng
tạo trong lao động, phát triển thể lực
và trí lực, phát huy khả năng tổ chức,
biết "điều khiển, chú ý, tính toán, xem
xét, sáng tạo, cần mẫn và vị tha ".
Quan điểm cơ bản thứ ba của
Makarenkô là “giáo dục trong tập thể,
bằng tập thể”. Đây là tư tưởng giáo dục
trung tâm của ông. Quan điểm này thể
hiện rất rõ trong hoạt động của các
công xã lao động, trong Bài ca sư phạm
cũng như trong Những ngọn cờ trên
tháp. Xuất phát từ lời dạy của Lênin về
những quan hệ giữa cá nhân và tập thể
trong xã hội xã hội chủ nghĩa,
Makarenkô đã nghiên cứu những mối
quan hệ đó và rút ra những ứng dụng
thực tế vào công tác giáo dục.
Makarenkô đã sớm thấy cùng với
Krupxkaia và Kalinin, một nguyên tắc
quan trọng: tập thể là biện pháp giáo
dục tốt nhất. "Chính tập thể là người
giáo dục tốt nhất”. Vì thế "tác động sư
phạm có tổ chức phải hướng vào tập
thể": tập thể công xã lao động, tập thể
trường học, tập thể gia đình, tập thể
Đoàn Thanh niên Đội Thiếu niên. Rút
kinh nghiệm từ thực tế, Makarenkô đã
xây dựng hẳn một lý luận về sự phát
triển của tập thể, phong cách của tập
thể.
Tác phẩm Bài ca sư phạm là dẫn
chứng cụ thể về quá trình hình thành
tập thể. Lúc đầu, tập thể chưa hình
thành, kỷ luật tự giác chưa có, nhà giáo
dục phải đề ra yêu cầu, có khi phải độc
đoán đề ra yên cầu. Khi chung quanh
nhà giáo dục đã có một nhóm cốt cán,
một cái nhân sẵn sàng bênh vực kỷ luật
trật tự chung một cách có ý thức, đó là
giai đoạn thứ hai. Giai đoạn thứ ba là
giai đoạn mà tự tập thể đề ra yêu cầu.
Lúc đó, nhà giáo dục chỉ còn đóng vai
trò điều chỉnh lại một số yêu cầu nào
đó đi hơi xa. Trình độ yêu cầu tới mức
cao nhất khi mỗi đứa trẻ tự mình đề ra
được yêu cầu cho bản thân và biết tự
kiểm tra thái độ của mình. “... Từ yêu
cầu độc đoán của nhà tổ chức đến yêu
cầu tự do của mỗi đứa trẻ đối với bản
thân nó trên cơ sở yêu cầu của tập thể,
tôi cho đó là con đường cơ bản của quá
trình tiến hóa của một tập thể trẻ xôviết.
Trong một bức thư gửi Maxim
Gorki, Makarenkô viết: "Tôi đã đạt
được kết quả vì xuất phát từ nguyên tắc
cơ bản sau đây: tập thể phải hoạt động,
tập thể có thể xây dựng được bởi những
con người hoạt động và chính trong sự
hoạt động đó họ tự biến đổi.”. Nói về
nguyên tắc giáo dục trong tập thể và
bằng tập thể của Makarenkô, Zađôrôp,
một đứa trẻ rất khó thích ứng, sau trở
nên kỹ sư, đã viết: ". dần dà, quá trình
giáo dục biến thành một quá trình tự
giáo dục của tập thể. Thật là đặc sắc và
không ngờ!".
Trên đây, tôi chỉ nêu lên những
quan điểm cơ bản nhất của Makarenkô
về giáo dục. Nội dung tác phẩm Bài ca
sư phạm còn chứa đựng nhiều bài học
khác, phong phú và sinh động. Đọc kỹ
tác phẩm, ta có thể rút ra nhiều bài học
về quan điểm giáo dục, về kỹ thuật sư
phạm.
Tóm lại, tư tưởng chủ đề của
Makarenkô trong Bài ca sư phạm là
giáo dục những trẻ lưu manh, phạm
pháp, sản phẩm của xã hội bóc lột,
thành những công nhân yêu nước, giác
ngộ, trung thành với chế độ xã hội chủ
nghĩa, những chiến sĩ tích cực xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Để đạt được
mục đích đó, nhà giáo dục phải tin
tưởng sâu sắc ở bản chất tốt đẹp của
con người, tôn trọng con người, phải
nắm vững quan điểm giáo dục trong lao
động, bằng lao động, và giáo dục trong
tập thể, bằng tập thể. Đó là những quan
điểm, những phương pháp giáo dục có
tính vạn năng hiệu quả nhất, nó thể
hiện căn bản nhất sự lãnh đạo của giai
cấp công nhân, nó là bản chất của giai
cấp công nhân.
Nội dung tác phẩm Bài ca sư phạm
diễn ra ở Liên-xô trong hoàn cảnh nội
chiến, trong thời kỳ khôi phục kinh tế
và bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hoàn cảnh miền Bắc nước ta hiện nay
có khác hoàn cảnh của Liên-xô lúc đó.
Đặc điểm trẻ em nước ta - kể cả một số
trẻ em hư hỏng - có khác đặc điểm
những đối tượng giáo dục của
Makarenkô trong Bài ca sư phạm.
Nhưng những nguyên lý, những quan
điểm cơ bản về giáo dục xã hội chủ
nghĩa không thay đổi. Tôi tin chắc rằng
những quan điểm giáo dục tiên tiến của
Makarenkô sẽ rất có ích cho chúng ta,
các giáo viên cũng như các cha mẹ học
sinh.
Ở nước ta, các tác phẩm của
Makarenkô chưa được phiên dịch đầy
đủ. Nay Nhà xuất bản Văn hóa, lần đầu
tiên, dịch tác phẩm Bài ca sư phạm, tác
phẩm nổi tiếng nhất của Makarenkô.
Tôi tin rằng bản Bài ca sư phạm sẽ
được bạn đọc hoan nghênh, nhất là các
bạn giáo viên. Đọc nó, nghiền ngẫm,
suy nghĩ, chắc chắn chúng ta rút ra
được nhiều bài học quí báu, không
những để giáo dục trẻ em hư mà cả
những trẻ em bình thường trong mỗi
gia đình, trong mỗi trường học.
Tháng 6 năm 1962
NGUYỄN SĨ TỲ
Viện phó Viện nghiên cứu
Khoa học giáo dục
Bộ Giáo dục
LỜI NGƯỜI DỊCH
Đề cập tới vấn đề cải tạo những con
người xấu của chế độ cũ để lại, chủ tịch
N. X. Khrutsôp, trong bài nói chuyện ở
Đại hội các nhà văn lần thứ ba, ngày 225-1959, đã xác định rằng:
Muốn đưa một con người như vậy
vào con đường ngay thẳng, cần có một
thái độ khác (với thái độ nghi kỵ, ruồng
bỏ - H. M.) cần phải tin ở con người, tin
vào những đức tính tốt nhất của con
người. Người đó có thể tham gia tích cực
vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng
sản được không? Có thể được các đồng
chí ạ!
Trong việc miêu tả những trường hợp
như thế, tôi khó lòng mà thi đua được
với tác giả quyển Bài ca sư phạm, Antôn
Xêmiônôvich Makarenkô, nhà văn nổi
tiếng và được mọi người đều kính trọng.
Ông đã cho ta thấy cái cao quý của con
người, cái sức mạnh lớn lao của lòng tin
ở con người. Và tất cả chúng đều biết rõ
những người, trước kia là trộm cắp và
giết người đã được săn sóc và tin tưởng
đã đền đáp lại lòng tin ấy gấp trăm ngàn
[1]
lần như thế nào .
Tên tuổi Makarenkô vang dội tới
chúng ta từ lâu.
Tác phẩm Bài ca sư phạm đã được
giới thiệu với nhân dân Việt Nam ngay từ
năm 1956 qua cuốn phim cùng tên và chỉ
ít lâu sau, một cuốn phim khác, cũng
mang tên một tác phẩm lớn khác của ông
Những ngọn cờ trên tháp, lại được
chiếu trên các màn ảnh Việt Nam. Gần
đây, Nhà xuất bản Giáo dục cũng đã xuất
bản các bản dịch những cuốn Lời khuyên
[2]
các vị phụ huynh
và Cuốn sách của
[3]
những người làm cha mẹ
của ông.
Tất cả những phim và sách ấy đều được
quảng đại quần chúng nước ta hết sức
hoan nghênh. Đặc biệt phim Bài ca sư
phạm đã gây một xúc động mạnh mẽ
trong các tầng lớp thanh niên nam nữ và
khiến các nhà giáo dục cũng như những
người làm cha mẹ phải quan tâm suy nghĩ
rất nhiều.
Ở Liên Xô, sau khi cuộc cách mạng
vô sản thành công và bắt đầu xây dựng
cơ sở về mọi mặt cho chủ nghĩa xã hội,
thì vấn đề giáo dục thanh niên, nhất là
các thanh niên hư hỏng, nạn nhân của chế
độ cũ và của thời kỳ tao loạn, lập tức
được đặt ra với tất cả tầm quan trọng to
lớn và cấp thiết của nó.
Năm 1920 được giao cho cái trọng
trách cải tạo những trẻ vị thành niên
“phạm pháp ”, những trẻ con vô thừa
nhận kéo lê cuộc sống bi thảm, đói rách
trên những bờ hố của trụy lạc, bên cống
rãnh của những thành phố chưa hẳn hết bị
đe dọa vì nạn thổ phỉ, sau cuộc Cách
mạng tháng Mười, Makarenkô đã làm thế
nào để biến những thanh niên tưởng
chừng không tài nào cảm hóa được ấy
thành những người công dân tốt của tổ
quốc Xô Viết, những người phải có cái
nhiệm vụ tích cực xây dựng chủ nghĩa
cộng sản?
Marakenkô không phải là một nhà lý
luận phòng giấy. Ông không dựa vào
những nguyên tắc trừu tượng nào để tìm
phương pháp sư phạm. Là một người
hoạt động, và thấm nhuần sâu sắc nguyên
lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, ông đã nhìn
thẳng vào thực tế biện chứng của đời
sống với những cá tính vô cùng phức tạp
và sinh động của các trẻ nuôi giao phó
cho ông. Một lòng tin mãnh liệt ở những
khả năng tốt đẹp của con người hướng
dẫn mọi hành động của ông, đem cho ông
sức mạnh vượt qua mọi trở ngại trong
những giờ đen tối nhất. Thêm vào đấy,
một đức tính nhẫn nại vô song, không
bao giờ biết nản, một tình yêu sâu sắc
đối với con người mà ông luôn luôn tôn
trọng ở mỗi đứa trẻ, một nhiệt tình nghệ
sĩ lúc nào cũng tỉnh táo để phát hiện ở nó
những ánh lửa thiêng, những bông hoa
chớm nở mà ông hết sức bồi dưỡng, nâng
niu, một tinh thần vì người cao cả, quên
mình và hy sinh hết thảy để chăm lo săn
sóc từng li từng tí đến đời sống của các
trẻ nuôi, khiến ông dần dần đi sâu vào
tận cùng các ngõ ngách tâm hồn chúng,
được chúng kính trọng và nhất là yêu
mến. Bài ca sư phạm cũng là một bài ca
chủ nghĩa nhân đạo của con người cộng
sản.
Cuốn sách đó kết tinh những kinh
nghiệm sống của Marakenkô trong việc
xây dựng trại Gorki, trại lao động cải tạo
đầu tiên cho thiếu nhi ở Liên Xô. Bị đặt
trước những tình trạng khó khăn, có khi
nguy hiểm, hầu như tuyệt vọng, ông thuật
lại chuyện những nghi ngờ, những sai
lầm, những lo âu, những tức giận và sau
cùng là những thành công đã đền đáp lại
cái nghị lực không thể khuất phục được
[4]
của ông .
Nhưng không nên tưởng đây là một
câu chuyện khắc khổ, với những hình
thức khô khan, đóng chắc trong khuôn
khổ một bản báo cáo. Trong Bài ca sư
phạm, Marakenkô tỏ ra là một nhà nghệ
thuật có tài, trên cơ sở những tài liệu cụ
thể của cuộc sống đã tái hiện quá trình
hình thành con người mới… Ông đã biết
đem vào quyển tiểu thuyết của mình
những yếu tố nói lên tiền đồ tương lai, sự
tiến triển của đất nước, của xã hội, tức là
thể hiện cuộc sống trong sự vận động đi
[5]
lên của nó .
Những sự việc được miêu tả trong
truyện là tất cả cuộc sống vô cùng phong
phú của cải xã hội thiếu nhi không ngừng
biến chuyển – cũng như cái xã hội lớn
nói chung- cuộc sống có những khía cạnh
ngây thơ nhất định nhưng cũng đầy rẫy
những nét khiến người ta phải ngạc nhiên
và nghi ngờ. Mấy trăm nhân vật, kể cả trẻ
con và người lớn, xuất hiện trên những
trang sách, là cả một thế giới rộng lớn vì
quy mô diễn biến của nó trong không
gian và thời gian, một thế giới phồn tạp,
trong đó mỗi người mỗi vẻ đều được ghi
rất nhanh bằng vài lời sắc gọn, chắc như
một nhát dao, một nhát búa làm nổi bật
ngay tính cách điển hình. Nếu có những
trang đượm một ý vị thơ đầm ấm, tả sự
vui sống một buổi chiều đông chung
quanh lò sưởi, mà các cây củi trong lò tự
kể chuyện mình (phần II, chương 3), thì
cũng có những trang đầy sự náo nức của
chú trại viên đi chân đất nhưng thực sự
làm chủ nhân ông, đem hết sức mình ra
lao động xây dựng trại, chế ngự và sửa
chữa cả những thiếu sót của thiên nhiên
(phần II, chương 10). Và liền ngay sau
đó, ta được nghe giọng trữ tình kỳ thú
của con người đứng chỉ đạo tất cả những
công cuộc ấy:
Mỗi đứa trẻ đó có đường đi của nó,
cũng như trại Gorki có đường đi của trại.
Tôi cảm thấy tôi nắm trong tay rất nhiều
đường xuất phát của cuộc đời ấy, song
nhận cho ra những phương hướng, triển
vọng và điểm kết thúc của những con
đường đó trong đám sương mù của tương
lai gần gũi thật khó khăn biết nhường
nào. Giữa đám sương mù ấy hiện đang
quay lộn trong lốc bão những yếu tố mà
người ta chưa chi phối được, mà các kế
hoạch và các khoa toán học chưa đặt
được cho chúng một tên gì. Cuộc hành
quân của chúng tôi xuyên qua những lực
lượng không cân lường được ấy có cái
vẻ mỹ quan của nó, cho nên vẻ mỹ quan
của những thửa vườn hoa, vườn quả kia
đã hết làm cho tôi cảm động.
Thảng hoặc ở đây, ở đó, đôi khi cũng
có một chút âm thầm chua chát không thể
nào tránh được, trong những giờ phút
ngờ vực cái kết quả công việc mình làm,
nghĩ đến sự bạc bẽo của cuộc đời mình,
dệt toàn bằng những vất vả và hy sinh
trong bóng tối, nhưng cái đó chỉ là
thoáng qua và hãn hữu, còn thường thì
tác giả để lộ trên mỗi trang, hầu như trên
mỗi dòng, một nụ cười vô cùng tinh tế và
tế nhị. Nói là “để lộ” có lẽ không đúng
lắm, và nụ cười cũng không hẳn là luôn
luôn rõ rệt. Đúng hơn, nhiều khi đó chỉ là
một cái nhếch môi, hoặc ta tưởng tượng
ra như vậy, một cái gì rất kín đáo nhưng
vô cùng sâu sắc và thấm thía, nó chính là
một nét đặc biệt Marakenkô. Là dấu hiệu
không thể lẫn được của bản chất trào
tiếu, phúng thích, cái gọi là “uy mua”
(humour) riêng của ông vậy. Đọc Bài ca
sư phạm ta luôn luôn tưởng được thấy
nét mặt ông cũng có phần nào giống nét
mặt Lapô mà ông tả cứ “tỉnh khô “đi,
kiểu “cù không cười “, trong khi hắn làm
cho những người nghe hắn phải bò lăn ra
cười vì những câu hóm hỉnh của hắn. Cái
duyên ấy chỉ có thể có được ở những
người mang sẵn trong lòng một tình yêu
đời bất trị, nó phản ánh một niềm tin
vững chắc ở mình, ở sức mạnh thuyết
phục của mình, biết mình nắm được lẽ
phải, nắm được chân lý.
Nét mặt Marakenkô mà ta tưởng
tượng ra đó có lẽ không sai lạc lắm, nếu
đem so sánh với cách nhìn của đại văn
hào Maxim Gorki trong buổi gặp gỡ đầu
tiên của người với Marakenkô, bấy giờ
đã gần bốn mươi tuổi:
Người miêu tả cho ta thấy ông mới
thoạt trông khá tầm thường, tóc cắt ngắn
kiểu bàn chải, một cái mũi khá lớn, một
bộ ria mép ngắn, đôi mắt màu lam xám
đột nhiên ánh lên vẻ tinh quái, một kiểu
ăn mặc giản dị, hầu như kiểu quân nhân,
dáng điệu vừa là của một nhà giáo thôn
quê vừa là của một người lính. Thoạt
mới gặp, Marakenkô cho người ta cái ấn
tượng là hơi lạnh lùng, hơi kín đáo, bởi
vì ông ưa lặng lẽ nghe hơn, đầu hơi
nghiêng nghiêng tựa hồ ông đang in lấy
một dấu hữu hình nào đó của người nói
chuyện với mình (ông ta biết nắm ngay
tức khắc được những nét đặc thù chủ yếu
của một người mới đến, đóng nó vào một
câu đầy ý nghĩa thấm thía và trào lộng),
thế rồi một nụ cười hiền hậu bỗng làm
biến dạng cái bộ mặt hơi buồn ấy và đến
lượt Makarenkô bắt đầu nói bằng một
giọng hơi ồm ồm, hơi khàn khàn, nhưng
[6]
vô cùng giàu tiết điệu ý nhị .
Tác giả của những dòng trên đây còn
cho ta biết thêm:
* Bản chất nghệ sĩ rất sâu sắc, say mê
hết thảy mọi cảnh sắc thiên nhiên cũng
như say mê sân khấu, âm nhạc và thi ca,
Makarenkô biết tạo ra cái đẹp ở quanh
mình, và bọn trẻ cảm thấy ngay tức khắc
những cố gắng của ông để làm cho cuộc
sống của chúng đẹp đẽ hơn lên.
* Dậy từ 5 giờ sáng, ít khi ngủ trước
1 giờ, Makarenkô khiến những người
xung quanh phải ngạc nhiên vì sức làm
việc không thể nào tin được của ông: ông
có cái tài ở bất cứ chỗ nào cũng có mặt
cùng một lúc mà không bao giờ có vẻ gì
là hối hả cả. Là một nhà tổ chức giỏi bậc
nhất, ông có thể đồng thời làm nhiều
công việc song song mà không hề rối trí
vì sự những đứa trẻ nuôi của ông cứ đi
[7]
đi lại lại .
Chính cái sức làm việc không biết
mệt ấy và cái tổ chức lạ lùng ấy đã khiến
Makarenkô, “nhà sư phạm lớn nhất của
thời đại chúng ta “(S. O. M. Nubarôp)
đồng thời là nhà văn lỗi lạc mà Chủ tịch,
N. X. Khrutsôp ca ngợi một cách rất
xứng đáng ấy, đã có những địa bàn hoạt
động rất khác nhau (xem lược kê những
tác phẩm của ông ở phần phụ lục, tập 3)
và đã kể lại cho chúng ta một di sản văn
học và sư phạm vô cùng quý báu.
Chúng ta cần phải khai thác cái di
sản ấy. Nếu Makarenkô đã tìm những
gương sống trong các nhân vật của
Maxim Gorki để lần ra con đường đi vào
tâm tư của con người, phát hiện ở nó
những giá trị, những khả năng thiện mỹ,
dù chỉ là một mầm mống rất non yếu, một
liều lượng rất ít ỏi của cái bản chất tốt ẩn
giấu dưới những hiện tượng thảm hại
nhất của sự cùng khốn và sự hư hỏng đồi
bại, thì đến lượt chúng ta, chúng ta há
không thấy sự bổ ích tìm trong những
gương sống ngay trong các nhân vật của
chính Makarenkô? Những Zađôrôp,
Burun, Bratsenkô, Karabanôp, Gut,
Galatenkô, Fêđôrenkô, Kutlaty, Ôpriskô,
Taranet, Tsôbô, Vecsơnep, Vetkôpxki, là
chỉ kể những tên tình cờ nhớ tới, và
những nữ trại viên Ôlia Vôrônôva,
Natasa Pêtrenkô, Naxchia Nôtsêvnaia,
Raitxa Xôkôlôva, v.v… Bao nhiêu tiêu
bản của một cái nhân loại phức tạp mà
giản dị, kỳ quái mà dễ hiểu, ô hợp mà
đồng nhất, từ vẻ ngoài: y phục, tư thế,
đến những nét chủ đạo của tâm hồn: tình
vui sống, lòng tin yêu chế độ, quyết tâm
bảo vệ nó đến cùng. Đồng nhất nhưng
không phải rập khuôn, vì ai nấy vẫn mỗi
người mỗi vẻ, không ai giống ai, như trên
một bức khảm sà cừ mà mầu sắc lung
linh thay đổi không cùng, tùy theo góc
của người đứng ngắm. Có nhà sư phạm
nào không thèm muốn được nói như tác
giả:
Cuộc sống ở trại bây giờ tốt
đẹp và có trật tự, trông thấy vậy tôi tự
hào về phần đóng góp của mình làm cho
đất nước này thêm đẹp đẽ. Song về
phương diện thẩm mỹ tôi cũng có những
ý thích riêng của tôi: các thứ hoa, các
đường nhỏ đi dạo mát và các gốc cây cối
um tùm đều không làm cho tôi một phút
nào mất hút được những đứa trẻ mặc
quần cụt màu lam và sơ mi trắng nọ. Các
chú bé đó hiện thời đang chạy lăng xăng
hay bình tĩnh đi lại giữa các tân khách,
bận rộn chung quanh những bàn tiệc,
hoặc đứng vững ở nơi phận sự, ngăn
không cho ùa vào trại bằng mấy trăm kẻ
ngốc nghếch đến xem một đám cưới xưa
[8]
nay chưa từng có : đó là các trại viên
Gorki. Thon mảnh và chỉnh chện, mình
lẳn chắc và mềm mại, gân guốc và lành
mạnh, thân thể không biết đến thuốc men
là gì và gương mặt nào cũng môi đỏ hồng
hào. Những gương mặt như thế được tạo
nên ở trại: khi ở ngoài phố vào đây
chúng không như vậy?
Kết quả thật nức lòng, tuy nó chỉ mới
đánh dấu một chặng đầu tiên trên đường
đi tới đích của trại. Nhưng đạt được tới
được kết quả đầu tiên ấy cũng đã phải
tốn biết bao tâm tư, trải qua biết bao giờ
lo âu phiền muộn, mỗi lúc có thể chỉ
muốn “tung hê” tất cả, bỏ đấy mà đi, như
một vài giáo viên của trại đã có lần thoái
chí thốt ra lời. Bởi vì mỗi “chú bé” kia
là cả một thế giới riêng, mỗi hành động
tội lỗi của chú đều bắt nguồn từ những
động cơ ích kỷ và những ý nghĩ sai lầm
mà quãng đời quá khứ của chú, trước khi
PHẠM
Tập 1
Tác giả: A. X. MAKARENKÔ
NHÀ XUẤT BẢN: VĂN HÓA VIỆN VĂN HỌC
Năm xuất bản: 1962
Người dịch: HƯỚNG MINH dịch
Scan sách: Chợ Sách Cũ
Đánh máy:
kaoaye, sao truc,
haiauLucky,
lilypham,
tmrquan,
annie_tuongminh,
lathanhvien,
Lynk_xu, picicrazy, huynhnhukim,
lemontree123
Soát lỗi & Tạo prc: lemontree123
Nguồn: tve-4u.org
Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook www.dtv-ebook.com
Dịch theo bản dịch tiếng Pháp
POEME PEDAGOGIQUE của Jean
Chamenois (Nhà xuất bản Ngoại văn,
Mạc-tư-khoa, 1953), có tham khảo bản
dịch tiếng Trung-quốc của Hứa Lỗi
Nhiên (Nhân dân văn học xuất bản xã,
Bắc Kinh, 1959).
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NGƯỜI DỊCH
A. MAKARENKÔ (1888 – 1939)
1. NÓI CHUYỆN VỚI ÔNG GIÁM ĐỐC
SỞ GIÁO DỤC
2. NHỮNG BƯỚC ĐẦU KHÔNG VINH
QUANG CỦA TRẠI GORKI
3. ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỮNG NHU CẦU
CẦN THIẾT NHẤT
4. ĐẤU TRANH NỘI BỘ
5. VIỆC QUỐC GIA
6. CHIẾM ĐƯỢC CÁI THÙNG SẮT
7. XÂY DỰNG MỘT THẾ GIỚI THÌ
CŨNG PHẢI CÓ ĐỦ MỌI THỨ”
8. TÍNH CÁCH VÀ VĂN HÓA
9. ”Ở ĐẤT UKREN VẪN CÒN CÓ
NHỮNG TAY HẢO HÁN"
10. NHỮNG “CHIẾN SĨ GIÁO DỤC XÃ
HỘI”
11. THẮNG LỢI VỀ CÁI MÁY GIEO HẠT
12. BRATSENKÔ VÀ ÔNG ỦY VIÊN
CUNG CẤP LƯƠNG THỰC
13. ÔTXATSI
14. NHỮNG LỌ MỰC “TỎ TÌNH LÂN
MỤC”
15. “ĐỨA CỦA CHÚNG TA ĐẸP NHẤT”
16. “CHÁO YẾN MẠCH”
17. SARIN ĐƯỢC TRẢ NỢ
18. "LIÊN MINH" VỚI NÔNG DÂN
19. RÚT THĂM
20. SINH SÚC VÀ NÔNG CỤ
21. NHỮNG LÃO GIÀ TAI HẠI
22. CHẶT CHÂN TAY
23. NHỮNG HẠT GIỐNG CHỌN LỌC.
24. CON ĐƯỜNG ĐAU KHỔ CỦA
XÊMIÔN
25. MỘT LỐI SƯ PHẠM THẦY QUYỀN
26. NHỮNG QUÁI VẬT CỦA TRẠI THỨ
HAI
27. CHINH PHỤC ĐOÀN KÔMXÔMÔN
28. MỞ ĐẦU TIẾN HÀNH KHÚC
THẮNG LỢI
PHỤ LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Antôn Xêmiônôvich Makarenkô, nhà
giáo dục học vĩ đại của Liên-xô, xuất
thân từ một gia đình công nhân. Cha
mẹ ông đã phải chịu mọi sự thiếu thốn
để cho ông theo học. Thầy giáo của
ông, Kaminxki, một nhà giáo dục tiến
bộ, khuyến khích ông theo nghề dạy
học. Năm 17 tuổi, ông vào ngành giáo
dục, dạy học ngay ở xưởng làm việc
của cha. Học trò là con công nhân.
Cuộc thí nghiệm giáo dục đầu tiên
trong một tập thể công nhân - ở đó sau
này xuất hiện khá nhiều chiến sĩ
bônsêvích - đã đóng một vai trò quan
trọng trong những quan niệm sư phạm
của Makarenkô. Lúc đó là năm 1905.
Năm 1905, ông viết, một tiếng sấm làm
rung chuyển đất nước Nga. Ông đã
tham gia những cuộc mít tinh biểu tình
của công nhân, thường xuyên đọc tờ
báo bônsêvích "Cuộc sống mới", được
biết Maxim Gorki, mê say những tác
phẩm của Lênin, nhất là cuốn "Tổ chức
Đảng và văn học của Đảng". Năm 1914,
Makarenkô vào học ở học viên sư phạm
Pôntava và bắt đầu viết văn, làm thơ.
Năm 1917, tốt nghiệp sư phạm, ông trở
về thành phố quê hương dạy học.
Năm 1920, vì tình hình phản cách
mạng và sự can thiệp của nước ngoài,
nước Nga bị tàn phá, đói rét, hàng
ngàn trẻ lang thang trên các đường
phố, bám vào các toa tàu, phá phách
các chợ búa, nạn mãi dâm nghiêm
trọng. Nhà tù đầy thanh thiếu niên
phạm pháp. Làm thế nào cải tạo chúng,
đưa chúng trở lại cuộc sống bình
thường, tham gia vào xã hội mới?
Makarenkô là một trong những nhà
giáo dục được cử ra đảm nhiệm công
tác nặng nề đó. Và ông là nhà giáo dục
đầu tiên đã đặt vấn đề và giải quyết
vấn đề theo những phương hướng độc
đáo.
Mùa thu năm 1920, Ty Giáo dục
tỉnh Bôntapski ủy nhiệm Makarenkô
thành lập một công xã lao động gồm
các em phạm pháp chưa đến tuổi
trưởng thành, mang tên công xã Maxim
Gorki. Công xã này được mô tả lại
trong tác phẩm "Bài ca sư phạm". Năm
1927, Makarenkô xây dựng một công xã
lao động thứ hai, mô tả trong tác phẩm
"Những ngọn cờ trên tháp".
Năm 1934, Makarenkô trúng cử hội
viên Hội nhà văn Xô Viết và năm 1938,
tham gia lãnh đạo Ủy ban phụ trách
các công xã lao động ở Ukren. Ông là
một nhà văn có biệt tài, đại biểu cho
chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Tháng 2 năm 1939, ông được tặng
thưởng huân chương Lao động Cờ đỏ
vì thành tích rực rỡ và thành quả trong
việc phát triển văn học xô-viết.
Những
tác
phẩm
chính
của
Makarenkô gồm: Bài ca sư phạm,
Những ngọn cờ trên tháp, Tiến hành khúc
năm 1930, Cuốn sách của những người
làm cha mẹ, và rất nhiều bài diễn
giảng, những bài báo về giáo dục.
Có thể nói trong nền giáo dục học
thế giới, ngoài Usinxki ra, không có
một nhà lý luận và một nhà hoạt động
thực tiễn nào xuất sắc như Makarenkô.
Những tác phẩm của ông được dịch ra
hàng chục thứ tiếng trên thế giới.
Hiện nay ở Liên-xô, toàn bộ tác
phẩm của ông được ghi trong chương
trình học của tất cả các học viện sư
phạm, và có ảnh hưởng sâu sắc đối với
toàn bộ hệ thống giáo dục của Liên-xô.
Những tác phẩm của ông có tính tư
tưởng và tính nghệ thuật cao chính vì
ông đã miêu tả sâu sắc cuộc sống và
chính ông đã tham gia tích cực vào
cuộc sống đó.
"Bài ca sư phạm” là một trong
những tác phẩm của Makarenkô được
người đọc ham thích nhất. Tác phẩm
này cũng đã được dựng thành phim.
Bài ca sư phạm là gì?
Đó là bài ca chiến thắng của những
quan điểm giáo dục macxi - Lêninit.
Đó là thành công rực rỡ của
Makarenkô trong việc cải tạo hàng
ngàn trẻ lưu manh, tội lỗi, biến chúng
từ chỗ là "cặn bã” của xã hội trở thành
những công dân tích cực của xã hội xôviết: những người công nhân, những
nhà sử học, nhà địa chất, nhà giáo dục,
những kỹ sư, bác học, thầy thuốc, nghệ
sĩ; nhiều người được thưởng huân
chương, có người trở thành anh hùng
xô-viết.
Bài ca sư phạm thể hiện những quan
điểm cơ bản nhất về giáo dục của chủ
nghĩa Mác - Lênin. Có thể tóm tắt
những quan điểm cơ bản đó như sau:
Quan điểm thứ nhất, quan điểm
quan trọng nhất của Makarenkô, là “ý
niệm về con người, thái độ macxit đối
với con người”. Có thể coi quan điểm
này là quan điểm xuất phát, tư tưởng
giáo dục chỉ đạo của ông. Đó là lòng
nhân đạo xã hội chủ nghĩa đối với con
người. Makarenkô nói: “Tất cả hệ
thống giáo dục xô-viết nhằm thực hiện
khẩu hiệu của Xtalin về sự săn sóc
thương yêu đối với con người”. Theo
ông, khái niệm "trẻ hư hỏng” là một
điều vô nghĩa. Ông không công nhận có
trẻ xấu từ lúc lọt lòng mẹ, có trẻ phạm
tội mà không thể cứu chữa được."...
Khoa sư phạm bình thường, hoạt động
hướng theo một mục đích, sẽ biến đổi
tập thể trẻ con thành một tập thể rất
bình thường. Không có trẻ tội lỗi từ lúc
lọt lòng, không có trẻ mới sinh đã mang
tính xấu. Đối với tôi, theo kinh nghiệm
bản thân, điều nhận định này được
kiểm nghiệm đúng trăm phần trăm.”.
Thái độ của ông là một thái độ lạc
quan cách mạng. Chính những nhân vật
của Maxim Gorki đã giúp ông có được
thái độ lạc quan ấy. "Gorki lạc quan
không những vì thấy trước một nhân
loại sung sướng, không những vì thấy
hạnh phúc trong dông tố, mà còn vì đối
với Gorki mọi người đều đẹp. Đẹp
không những theo ý nghĩa luân lý và xã
hội, mà đẹp cả về mặt thẩm mỹ và sức
mạnh".
Vì vậy, theo Makarenkô, "nhà sư
phạm phải đi đến với từng người với
một giữ thuyết lạc quan, dù có phải lầm
lẫn chăng nữa". Cũng như Gorki, ông
từ chối không dựa trên những khía
cạnh tiêu cực và ốm yếu của con người.
Ông tìm ra ở mỗi trẻ, mặc dầu cảnh
ngộ bi đát tuyệt vọng đến thể nào, một
niềm hy vọng, một khía cạnh tích cực
để phát huy lên, làm nảy nở ra mọi tiến
bộ. Chính vì thương yêu con người, tôn
trọng con người nên phải yêu cầu ở
đứa trẻ càng nhiều càng tốt."Càng tôn
trọng con người bao nhiêu, càng yêu
cầu bấy nhiêu”. Yêu cầu đối với đứa trẻ
biểu thị sự tôn trọng đối với sức lực và
khả năng của nó. Và ngược lại, tôn
trọng bao hàm ý nghĩa phải đòi hỏi,
phải yêu cầu. Yêu cầu càng nhiều, đứa
trẻ càng tin ở khả năng của nó, càng
thấy tự hào. Bài ca sư phạm là một bức
tranh tuyệt đẹp, một bài thơ tuyệt diệu
về niềm tin tưởng ở bản chất tốt đẹp
của con người. Có đứa trẻ, trước kia đã
từng ăn cắp giết người, nay được
Makarenkô trao cho giữ súng, ủy nhiệm
cho đi lĩnh những món tiền rất lớn. Một
lần, vì thái độ hỗn láo quá đáng,
Makarenkô đánh Zađôrôp, một trong
những đứa cầm đầu. Về sau, nhiều lần
ông nhắc lại việc đó, cho đấy là dấu
hiệu về sự hoang mang và tuyệt vọng
cực độ của nhà giáo dục. Suốt đời, ông
chống lại chủ trương trừng phạt về thể
xác. Vì thế, ta không nên hiểu lầm sự
việc đó mà cho rằng khi cần thiết cũng
phải đánh trẻ.
Công xã lao động trong Bài ca sư
phạm mang tên Maxim Gorki và cuốn
tiểu thuyết kết thúc với cuộc đến thăm
công xã của Maxim Gorki nói lên ảnh
hưởng sâu sắc của Gorki đối với những
quan điểm sư phạm của Makarenkô.
Quan điểm thứ hai là “giáo dục
trong lao động”. Đây là nguyên lý cơ
bản nhất của nền giáo dục xã hội chủ
nghĩa, một nền giáo dục dựa trên học
thuyết Mác - Lênin. Trong thực tế cũng
như trong lý luận, Makarenkô chỉ rõ
rằng: lao động không những là mục
đích giáo dục mà còn là phương tiện
giáo dục. Hoạt động lao động của trẻ
trong công xã Gorki chiếm một vị trí
hết sức quan trọng, lao động tự phục vụ
và lao động sản xuất. Chính vì nắm
vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin về giáo dục, chính vì thực hiện
sự kết hợp giữa học lập và lao động
sản xuất trong các công xã lao động
nên Makarenkô ngay từ đầu đã thấy rõ
được những nét lớn về giáo dục kỹ
thuật tổng hợp. Phần cuối tác phẩm Bài
ca sư phạm cho biết Makarenkô lãnh
đạo một trại lao động thứ hai ở Ukren,
ông lập một trường phổ thông 10 năm,
một xưởng chế tạo máy ảnh Lâyka và
một xưởng chế tạo dụng cụ điện. Các
xưởng này giúp trại tự lập hoàn toàn.
Từ sản xuất nông nghiệp và thủ công
nghiệp đến sản xuất công nghiệp, đó là
bước tiến mới về mặt giáo dục kỹ thuật
tổng hợp.
Trước khi chết, ngày 9 tháng 3 năm
1939, phát biểu trong một cuộc dạ hội,
Makarenkô nói: "Tôi là người đứng về
phía các quá trình sản xuất trong nhà
trường, thậm chí quá trình sản xuất
đơn giản nhất, dễ tiến hành nhất, buồn
tẻ nhất. Tôi nghĩ rằng loại trường học
sản xuất như vậy, một thời gian nữa
chúng ta sẽ có,..”. Thí nghiệm của
Makarenkô trong các công xã lao động
giúp ích cho sự phát triển phương
hướng giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Đến
đại hội 19, rồi 20, 21 của Đảng Cộng
sản Liên-xô, nguyên lý giáo dục kỹ
thuật tổng hợp được phát triển thành
một hệ thống lý luận rất phong phú.
Nhưng Makarenkô là nhà giáo dục học
đầu tiên đã tìm ra cách áp dụng cụ thể
nguyên lý giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
Trẻ ở trong công xã lao động đã làm
quen dần với những nguyên lý chung về
kỹ thuật, về tổ chức sản xuất, về những
động tác đơn giản và cơ bản về sản
xuất nông nghiệp, về cơ khí và về điện
lực. Qua giáo dục lao động, nhiều trẻ
"tội lỗi” đã được cải tạo về tư tưởng và
về sau trở nên những nhà chuyên môn
giỏi, công nhân lành nghề, bác sĩ, kỹ
sư, phi công, bác học.
Không những trẻ hư hỏng cần được
cải tạo trong lao động mà trẻ bình
thường cũng cần được giáo dục trong
lao động, Không những nhà trường mà
cả gia đình cũng cần giáo dục thanh
thiếu niên qua công tác lao động từ
thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Quan điểm lao động là đức tính tốt đẹp
nhất là cơ sở của nền đạo đức xã hội
chủ nghĩa. Theo Makarenkô, trên đất
nước xô-viết, lao động phải là Lao
động sáng tạo, lao động tự giác, lao
động phải là hình thức biểu hiện chủ
yếu của cá tính và tài năng. Chính quá
trình tham giữ lao động sẽ rèn luyện
đạo đức xã hội chủ nghĩa, đoàn kết
chặt chẽ những người lao động, xây
dựng tình bạn chân chính. Cần giáo
dục trẻ chống tâm lý ỷ lại, đòi hỏi, ăn
sẵn. Người giáo viên xã hội chủ nghĩa
phải giáo dục những con người hăng
hái lao động, động viên thái độ sáng
tạo trong lao động, phát triển thể lực
và trí lực, phát huy khả năng tổ chức,
biết "điều khiển, chú ý, tính toán, xem
xét, sáng tạo, cần mẫn và vị tha ".
Quan điểm cơ bản thứ ba của
Makarenkô là “giáo dục trong tập thể,
bằng tập thể”. Đây là tư tưởng giáo dục
trung tâm của ông. Quan điểm này thể
hiện rất rõ trong hoạt động của các
công xã lao động, trong Bài ca sư phạm
cũng như trong Những ngọn cờ trên
tháp. Xuất phát từ lời dạy của Lênin về
những quan hệ giữa cá nhân và tập thể
trong xã hội xã hội chủ nghĩa,
Makarenkô đã nghiên cứu những mối
quan hệ đó và rút ra những ứng dụng
thực tế vào công tác giáo dục.
Makarenkô đã sớm thấy cùng với
Krupxkaia và Kalinin, một nguyên tắc
quan trọng: tập thể là biện pháp giáo
dục tốt nhất. "Chính tập thể là người
giáo dục tốt nhất”. Vì thế "tác động sư
phạm có tổ chức phải hướng vào tập
thể": tập thể công xã lao động, tập thể
trường học, tập thể gia đình, tập thể
Đoàn Thanh niên Đội Thiếu niên. Rút
kinh nghiệm từ thực tế, Makarenkô đã
xây dựng hẳn một lý luận về sự phát
triển của tập thể, phong cách của tập
thể.
Tác phẩm Bài ca sư phạm là dẫn
chứng cụ thể về quá trình hình thành
tập thể. Lúc đầu, tập thể chưa hình
thành, kỷ luật tự giác chưa có, nhà giáo
dục phải đề ra yêu cầu, có khi phải độc
đoán đề ra yên cầu. Khi chung quanh
nhà giáo dục đã có một nhóm cốt cán,
một cái nhân sẵn sàng bênh vực kỷ luật
trật tự chung một cách có ý thức, đó là
giai đoạn thứ hai. Giai đoạn thứ ba là
giai đoạn mà tự tập thể đề ra yêu cầu.
Lúc đó, nhà giáo dục chỉ còn đóng vai
trò điều chỉnh lại một số yêu cầu nào
đó đi hơi xa. Trình độ yêu cầu tới mức
cao nhất khi mỗi đứa trẻ tự mình đề ra
được yêu cầu cho bản thân và biết tự
kiểm tra thái độ của mình. “... Từ yêu
cầu độc đoán của nhà tổ chức đến yêu
cầu tự do của mỗi đứa trẻ đối với bản
thân nó trên cơ sở yêu cầu của tập thể,
tôi cho đó là con đường cơ bản của quá
trình tiến hóa của một tập thể trẻ xôviết.
Trong một bức thư gửi Maxim
Gorki, Makarenkô viết: "Tôi đã đạt
được kết quả vì xuất phát từ nguyên tắc
cơ bản sau đây: tập thể phải hoạt động,
tập thể có thể xây dựng được bởi những
con người hoạt động và chính trong sự
hoạt động đó họ tự biến đổi.”. Nói về
nguyên tắc giáo dục trong tập thể và
bằng tập thể của Makarenkô, Zađôrôp,
một đứa trẻ rất khó thích ứng, sau trở
nên kỹ sư, đã viết: ". dần dà, quá trình
giáo dục biến thành một quá trình tự
giáo dục của tập thể. Thật là đặc sắc và
không ngờ!".
Trên đây, tôi chỉ nêu lên những
quan điểm cơ bản nhất của Makarenkô
về giáo dục. Nội dung tác phẩm Bài ca
sư phạm còn chứa đựng nhiều bài học
khác, phong phú và sinh động. Đọc kỹ
tác phẩm, ta có thể rút ra nhiều bài học
về quan điểm giáo dục, về kỹ thuật sư
phạm.
Tóm lại, tư tưởng chủ đề của
Makarenkô trong Bài ca sư phạm là
giáo dục những trẻ lưu manh, phạm
pháp, sản phẩm của xã hội bóc lột,
thành những công nhân yêu nước, giác
ngộ, trung thành với chế độ xã hội chủ
nghĩa, những chiến sĩ tích cực xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Để đạt được
mục đích đó, nhà giáo dục phải tin
tưởng sâu sắc ở bản chất tốt đẹp của
con người, tôn trọng con người, phải
nắm vững quan điểm giáo dục trong lao
động, bằng lao động, và giáo dục trong
tập thể, bằng tập thể. Đó là những quan
điểm, những phương pháp giáo dục có
tính vạn năng hiệu quả nhất, nó thể
hiện căn bản nhất sự lãnh đạo của giai
cấp công nhân, nó là bản chất của giai
cấp công nhân.
Nội dung tác phẩm Bài ca sư phạm
diễn ra ở Liên-xô trong hoàn cảnh nội
chiến, trong thời kỳ khôi phục kinh tế
và bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hoàn cảnh miền Bắc nước ta hiện nay
có khác hoàn cảnh của Liên-xô lúc đó.
Đặc điểm trẻ em nước ta - kể cả một số
trẻ em hư hỏng - có khác đặc điểm
những đối tượng giáo dục của
Makarenkô trong Bài ca sư phạm.
Nhưng những nguyên lý, những quan
điểm cơ bản về giáo dục xã hội chủ
nghĩa không thay đổi. Tôi tin chắc rằng
những quan điểm giáo dục tiên tiến của
Makarenkô sẽ rất có ích cho chúng ta,
các giáo viên cũng như các cha mẹ học
sinh.
Ở nước ta, các tác phẩm của
Makarenkô chưa được phiên dịch đầy
đủ. Nay Nhà xuất bản Văn hóa, lần đầu
tiên, dịch tác phẩm Bài ca sư phạm, tác
phẩm nổi tiếng nhất của Makarenkô.
Tôi tin rằng bản Bài ca sư phạm sẽ
được bạn đọc hoan nghênh, nhất là các
bạn giáo viên. Đọc nó, nghiền ngẫm,
suy nghĩ, chắc chắn chúng ta rút ra
được nhiều bài học quí báu, không
những để giáo dục trẻ em hư mà cả
những trẻ em bình thường trong mỗi
gia đình, trong mỗi trường học.
Tháng 6 năm 1962
NGUYỄN SĨ TỲ
Viện phó Viện nghiên cứu
Khoa học giáo dục
Bộ Giáo dục
LỜI NGƯỜI DỊCH
Đề cập tới vấn đề cải tạo những con
người xấu của chế độ cũ để lại, chủ tịch
N. X. Khrutsôp, trong bài nói chuyện ở
Đại hội các nhà văn lần thứ ba, ngày 225-1959, đã xác định rằng:
Muốn đưa một con người như vậy
vào con đường ngay thẳng, cần có một
thái độ khác (với thái độ nghi kỵ, ruồng
bỏ - H. M.) cần phải tin ở con người, tin
vào những đức tính tốt nhất của con
người. Người đó có thể tham gia tích cực
vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng
sản được không? Có thể được các đồng
chí ạ!
Trong việc miêu tả những trường hợp
như thế, tôi khó lòng mà thi đua được
với tác giả quyển Bài ca sư phạm, Antôn
Xêmiônôvich Makarenkô, nhà văn nổi
tiếng và được mọi người đều kính trọng.
Ông đã cho ta thấy cái cao quý của con
người, cái sức mạnh lớn lao của lòng tin
ở con người. Và tất cả chúng đều biết rõ
những người, trước kia là trộm cắp và
giết người đã được săn sóc và tin tưởng
đã đền đáp lại lòng tin ấy gấp trăm ngàn
[1]
lần như thế nào .
Tên tuổi Makarenkô vang dội tới
chúng ta từ lâu.
Tác phẩm Bài ca sư phạm đã được
giới thiệu với nhân dân Việt Nam ngay từ
năm 1956 qua cuốn phim cùng tên và chỉ
ít lâu sau, một cuốn phim khác, cũng
mang tên một tác phẩm lớn khác của ông
Những ngọn cờ trên tháp, lại được
chiếu trên các màn ảnh Việt Nam. Gần
đây, Nhà xuất bản Giáo dục cũng đã xuất
bản các bản dịch những cuốn Lời khuyên
[2]
các vị phụ huynh
và Cuốn sách của
[3]
những người làm cha mẹ
của ông.
Tất cả những phim và sách ấy đều được
quảng đại quần chúng nước ta hết sức
hoan nghênh. Đặc biệt phim Bài ca sư
phạm đã gây một xúc động mạnh mẽ
trong các tầng lớp thanh niên nam nữ và
khiến các nhà giáo dục cũng như những
người làm cha mẹ phải quan tâm suy nghĩ
rất nhiều.
Ở Liên Xô, sau khi cuộc cách mạng
vô sản thành công và bắt đầu xây dựng
cơ sở về mọi mặt cho chủ nghĩa xã hội,
thì vấn đề giáo dục thanh niên, nhất là
các thanh niên hư hỏng, nạn nhân của chế
độ cũ và của thời kỳ tao loạn, lập tức
được đặt ra với tất cả tầm quan trọng to
lớn và cấp thiết của nó.
Năm 1920 được giao cho cái trọng
trách cải tạo những trẻ vị thành niên
“phạm pháp ”, những trẻ con vô thừa
nhận kéo lê cuộc sống bi thảm, đói rách
trên những bờ hố của trụy lạc, bên cống
rãnh của những thành phố chưa hẳn hết bị
đe dọa vì nạn thổ phỉ, sau cuộc Cách
mạng tháng Mười, Makarenkô đã làm thế
nào để biến những thanh niên tưởng
chừng không tài nào cảm hóa được ấy
thành những người công dân tốt của tổ
quốc Xô Viết, những người phải có cái
nhiệm vụ tích cực xây dựng chủ nghĩa
cộng sản?
Marakenkô không phải là một nhà lý
luận phòng giấy. Ông không dựa vào
những nguyên tắc trừu tượng nào để tìm
phương pháp sư phạm. Là một người
hoạt động, và thấm nhuần sâu sắc nguyên
lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, ông đã nhìn
thẳng vào thực tế biện chứng của đời
sống với những cá tính vô cùng phức tạp
và sinh động của các trẻ nuôi giao phó
cho ông. Một lòng tin mãnh liệt ở những
khả năng tốt đẹp của con người hướng
dẫn mọi hành động của ông, đem cho ông
sức mạnh vượt qua mọi trở ngại trong
những giờ đen tối nhất. Thêm vào đấy,
một đức tính nhẫn nại vô song, không
bao giờ biết nản, một tình yêu sâu sắc
đối với con người mà ông luôn luôn tôn
trọng ở mỗi đứa trẻ, một nhiệt tình nghệ
sĩ lúc nào cũng tỉnh táo để phát hiện ở nó
những ánh lửa thiêng, những bông hoa
chớm nở mà ông hết sức bồi dưỡng, nâng
niu, một tinh thần vì người cao cả, quên
mình và hy sinh hết thảy để chăm lo săn
sóc từng li từng tí đến đời sống của các
trẻ nuôi, khiến ông dần dần đi sâu vào
tận cùng các ngõ ngách tâm hồn chúng,
được chúng kính trọng và nhất là yêu
mến. Bài ca sư phạm cũng là một bài ca
chủ nghĩa nhân đạo của con người cộng
sản.
Cuốn sách đó kết tinh những kinh
nghiệm sống của Marakenkô trong việc
xây dựng trại Gorki, trại lao động cải tạo
đầu tiên cho thiếu nhi ở Liên Xô. Bị đặt
trước những tình trạng khó khăn, có khi
nguy hiểm, hầu như tuyệt vọng, ông thuật
lại chuyện những nghi ngờ, những sai
lầm, những lo âu, những tức giận và sau
cùng là những thành công đã đền đáp lại
cái nghị lực không thể khuất phục được
[4]
của ông .
Nhưng không nên tưởng đây là một
câu chuyện khắc khổ, với những hình
thức khô khan, đóng chắc trong khuôn
khổ một bản báo cáo. Trong Bài ca sư
phạm, Marakenkô tỏ ra là một nhà nghệ
thuật có tài, trên cơ sở những tài liệu cụ
thể của cuộc sống đã tái hiện quá trình
hình thành con người mới… Ông đã biết
đem vào quyển tiểu thuyết của mình
những yếu tố nói lên tiền đồ tương lai, sự
tiến triển của đất nước, của xã hội, tức là
thể hiện cuộc sống trong sự vận động đi
[5]
lên của nó .
Những sự việc được miêu tả trong
truyện là tất cả cuộc sống vô cùng phong
phú của cải xã hội thiếu nhi không ngừng
biến chuyển – cũng như cái xã hội lớn
nói chung- cuộc sống có những khía cạnh
ngây thơ nhất định nhưng cũng đầy rẫy
những nét khiến người ta phải ngạc nhiên
và nghi ngờ. Mấy trăm nhân vật, kể cả trẻ
con và người lớn, xuất hiện trên những
trang sách, là cả một thế giới rộng lớn vì
quy mô diễn biến của nó trong không
gian và thời gian, một thế giới phồn tạp,
trong đó mỗi người mỗi vẻ đều được ghi
rất nhanh bằng vài lời sắc gọn, chắc như
một nhát dao, một nhát búa làm nổi bật
ngay tính cách điển hình. Nếu có những
trang đượm một ý vị thơ đầm ấm, tả sự
vui sống một buổi chiều đông chung
quanh lò sưởi, mà các cây củi trong lò tự
kể chuyện mình (phần II, chương 3), thì
cũng có những trang đầy sự náo nức của
chú trại viên đi chân đất nhưng thực sự
làm chủ nhân ông, đem hết sức mình ra
lao động xây dựng trại, chế ngự và sửa
chữa cả những thiếu sót của thiên nhiên
(phần II, chương 10). Và liền ngay sau
đó, ta được nghe giọng trữ tình kỳ thú
của con người đứng chỉ đạo tất cả những
công cuộc ấy:
Mỗi đứa trẻ đó có đường đi của nó,
cũng như trại Gorki có đường đi của trại.
Tôi cảm thấy tôi nắm trong tay rất nhiều
đường xuất phát của cuộc đời ấy, song
nhận cho ra những phương hướng, triển
vọng và điểm kết thúc của những con
đường đó trong đám sương mù của tương
lai gần gũi thật khó khăn biết nhường
nào. Giữa đám sương mù ấy hiện đang
quay lộn trong lốc bão những yếu tố mà
người ta chưa chi phối được, mà các kế
hoạch và các khoa toán học chưa đặt
được cho chúng một tên gì. Cuộc hành
quân của chúng tôi xuyên qua những lực
lượng không cân lường được ấy có cái
vẻ mỹ quan của nó, cho nên vẻ mỹ quan
của những thửa vườn hoa, vườn quả kia
đã hết làm cho tôi cảm động.
Thảng hoặc ở đây, ở đó, đôi khi cũng
có một chút âm thầm chua chát không thể
nào tránh được, trong những giờ phút
ngờ vực cái kết quả công việc mình làm,
nghĩ đến sự bạc bẽo của cuộc đời mình,
dệt toàn bằng những vất vả và hy sinh
trong bóng tối, nhưng cái đó chỉ là
thoáng qua và hãn hữu, còn thường thì
tác giả để lộ trên mỗi trang, hầu như trên
mỗi dòng, một nụ cười vô cùng tinh tế và
tế nhị. Nói là “để lộ” có lẽ không đúng
lắm, và nụ cười cũng không hẳn là luôn
luôn rõ rệt. Đúng hơn, nhiều khi đó chỉ là
một cái nhếch môi, hoặc ta tưởng tượng
ra như vậy, một cái gì rất kín đáo nhưng
vô cùng sâu sắc và thấm thía, nó chính là
một nét đặc biệt Marakenkô. Là dấu hiệu
không thể lẫn được của bản chất trào
tiếu, phúng thích, cái gọi là “uy mua”
(humour) riêng của ông vậy. Đọc Bài ca
sư phạm ta luôn luôn tưởng được thấy
nét mặt ông cũng có phần nào giống nét
mặt Lapô mà ông tả cứ “tỉnh khô “đi,
kiểu “cù không cười “, trong khi hắn làm
cho những người nghe hắn phải bò lăn ra
cười vì những câu hóm hỉnh của hắn. Cái
duyên ấy chỉ có thể có được ở những
người mang sẵn trong lòng một tình yêu
đời bất trị, nó phản ánh một niềm tin
vững chắc ở mình, ở sức mạnh thuyết
phục của mình, biết mình nắm được lẽ
phải, nắm được chân lý.
Nét mặt Marakenkô mà ta tưởng
tượng ra đó có lẽ không sai lạc lắm, nếu
đem so sánh với cách nhìn của đại văn
hào Maxim Gorki trong buổi gặp gỡ đầu
tiên của người với Marakenkô, bấy giờ
đã gần bốn mươi tuổi:
Người miêu tả cho ta thấy ông mới
thoạt trông khá tầm thường, tóc cắt ngắn
kiểu bàn chải, một cái mũi khá lớn, một
bộ ria mép ngắn, đôi mắt màu lam xám
đột nhiên ánh lên vẻ tinh quái, một kiểu
ăn mặc giản dị, hầu như kiểu quân nhân,
dáng điệu vừa là của một nhà giáo thôn
quê vừa là của một người lính. Thoạt
mới gặp, Marakenkô cho người ta cái ấn
tượng là hơi lạnh lùng, hơi kín đáo, bởi
vì ông ưa lặng lẽ nghe hơn, đầu hơi
nghiêng nghiêng tựa hồ ông đang in lấy
một dấu hữu hình nào đó của người nói
chuyện với mình (ông ta biết nắm ngay
tức khắc được những nét đặc thù chủ yếu
của một người mới đến, đóng nó vào một
câu đầy ý nghĩa thấm thía và trào lộng),
thế rồi một nụ cười hiền hậu bỗng làm
biến dạng cái bộ mặt hơi buồn ấy và đến
lượt Makarenkô bắt đầu nói bằng một
giọng hơi ồm ồm, hơi khàn khàn, nhưng
[6]
vô cùng giàu tiết điệu ý nhị .
Tác giả của những dòng trên đây còn
cho ta biết thêm:
* Bản chất nghệ sĩ rất sâu sắc, say mê
hết thảy mọi cảnh sắc thiên nhiên cũng
như say mê sân khấu, âm nhạc và thi ca,
Makarenkô biết tạo ra cái đẹp ở quanh
mình, và bọn trẻ cảm thấy ngay tức khắc
những cố gắng của ông để làm cho cuộc
sống của chúng đẹp đẽ hơn lên.
* Dậy từ 5 giờ sáng, ít khi ngủ trước
1 giờ, Makarenkô khiến những người
xung quanh phải ngạc nhiên vì sức làm
việc không thể nào tin được của ông: ông
có cái tài ở bất cứ chỗ nào cũng có mặt
cùng một lúc mà không bao giờ có vẻ gì
là hối hả cả. Là một nhà tổ chức giỏi bậc
nhất, ông có thể đồng thời làm nhiều
công việc song song mà không hề rối trí
vì sự những đứa trẻ nuôi của ông cứ đi
[7]
đi lại lại .
Chính cái sức làm việc không biết
mệt ấy và cái tổ chức lạ lùng ấy đã khiến
Makarenkô, “nhà sư phạm lớn nhất của
thời đại chúng ta “(S. O. M. Nubarôp)
đồng thời là nhà văn lỗi lạc mà Chủ tịch,
N. X. Khrutsôp ca ngợi một cách rất
xứng đáng ấy, đã có những địa bàn hoạt
động rất khác nhau (xem lược kê những
tác phẩm của ông ở phần phụ lục, tập 3)
và đã kể lại cho chúng ta một di sản văn
học và sư phạm vô cùng quý báu.
Chúng ta cần phải khai thác cái di
sản ấy. Nếu Makarenkô đã tìm những
gương sống trong các nhân vật của
Maxim Gorki để lần ra con đường đi vào
tâm tư của con người, phát hiện ở nó
những giá trị, những khả năng thiện mỹ,
dù chỉ là một mầm mống rất non yếu, một
liều lượng rất ít ỏi của cái bản chất tốt ẩn
giấu dưới những hiện tượng thảm hại
nhất của sự cùng khốn và sự hư hỏng đồi
bại, thì đến lượt chúng ta, chúng ta há
không thấy sự bổ ích tìm trong những
gương sống ngay trong các nhân vật của
chính Makarenkô? Những Zađôrôp,
Burun, Bratsenkô, Karabanôp, Gut,
Galatenkô, Fêđôrenkô, Kutlaty, Ôpriskô,
Taranet, Tsôbô, Vecsơnep, Vetkôpxki, là
chỉ kể những tên tình cờ nhớ tới, và
những nữ trại viên Ôlia Vôrônôva,
Natasa Pêtrenkô, Naxchia Nôtsêvnaia,
Raitxa Xôkôlôva, v.v… Bao nhiêu tiêu
bản của một cái nhân loại phức tạp mà
giản dị, kỳ quái mà dễ hiểu, ô hợp mà
đồng nhất, từ vẻ ngoài: y phục, tư thế,
đến những nét chủ đạo của tâm hồn: tình
vui sống, lòng tin yêu chế độ, quyết tâm
bảo vệ nó đến cùng. Đồng nhất nhưng
không phải rập khuôn, vì ai nấy vẫn mỗi
người mỗi vẻ, không ai giống ai, như trên
một bức khảm sà cừ mà mầu sắc lung
linh thay đổi không cùng, tùy theo góc
của người đứng ngắm. Có nhà sư phạm
nào không thèm muốn được nói như tác
giả:
Cuộc sống ở trại bây giờ tốt
đẹp và có trật tự, trông thấy vậy tôi tự
hào về phần đóng góp của mình làm cho
đất nước này thêm đẹp đẽ. Song về
phương diện thẩm mỹ tôi cũng có những
ý thích riêng của tôi: các thứ hoa, các
đường nhỏ đi dạo mát và các gốc cây cối
um tùm đều không làm cho tôi một phút
nào mất hút được những đứa trẻ mặc
quần cụt màu lam và sơ mi trắng nọ. Các
chú bé đó hiện thời đang chạy lăng xăng
hay bình tĩnh đi lại giữa các tân khách,
bận rộn chung quanh những bàn tiệc,
hoặc đứng vững ở nơi phận sự, ngăn
không cho ùa vào trại bằng mấy trăm kẻ
ngốc nghếch đến xem một đám cưới xưa
[8]
nay chưa từng có : đó là các trại viên
Gorki. Thon mảnh và chỉnh chện, mình
lẳn chắc và mềm mại, gân guốc và lành
mạnh, thân thể không biết đến thuốc men
là gì và gương mặt nào cũng môi đỏ hồng
hào. Những gương mặt như thế được tạo
nên ở trại: khi ở ngoài phố vào đây
chúng không như vậy?
Kết quả thật nức lòng, tuy nó chỉ mới
đánh dấu một chặng đầu tiên trên đường
đi tới đích của trại. Nhưng đạt được tới
được kết quả đầu tiên ấy cũng đã phải
tốn biết bao tâm tư, trải qua biết bao giờ
lo âu phiền muộn, mỗi lúc có thể chỉ
muốn “tung hê” tất cả, bỏ đấy mà đi, như
một vài giáo viên của trại đã có lần thoái
chí thốt ra lời. Bởi vì mỗi “chú bé” kia
là cả một thế giới riêng, mỗi hành động
tội lỗi của chú đều bắt nguồn từ những
động cơ ích kỷ và những ý nghĩ sai lầm
mà quãng đời quá khứ của chú, trước khi
 





