MENU CHÍNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu chức năng 1

    Menu chức năng 2

    Menu chức năng 3

    TAM GIÁC SỐ

    220px-pascaltriangleanimated2

    PHONG TRÀO

    CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG
    chu-new-moiHọc tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
    chu-new-moiNói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục.
    chu-new-moiMỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo.
    chu-new-moiXây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.

    Bài ca sự phạm - Tập 1

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Ngọc Nam (trang riêng)
    Ngày gửi: 15h:16' 29-01-2024
    Dung lượng: 2.0 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Tác Phẩm: BÀI CA SƯ
    PHẠM
    Tập 1
    Tác giả: A. X. MAKARENKÔ
    NHÀ XUẤT BẢN: VĂN HÓA VIỆN VĂN HỌC
    Năm xuất bản: 1962
    Người dịch: HƯỚNG MINH dịch
    Scan sách: Chợ Sách Cũ
    Đánh máy:

    kaoaye, sao truc,

    haiauLucky,
    lilypham,
    tmrquan,
    annie_tuongminh,
    lathanhvien,
    Lynk_xu, picicrazy, huynhnhukim,
    lemontree123
    Soát lỗi & Tạo prc: lemontree123
    Nguồn: tve-4u.org
    Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook www.dtv-ebook.com
    Dịch theo bản dịch tiếng Pháp
    POEME PEDAGOGIQUE của Jean
    Chamenois (Nhà xuất bản Ngoại văn,
    Mạc-tư-khoa, 1953), có tham khảo bản
    dịch tiếng Trung-quốc của Hứa Lỗi
    Nhiên (Nhân dân văn học xuất bản xã,
    Bắc Kinh, 1959).

    Mục lục
    LỜI NÓI ĐẦU
    LỜI NGƯỜI DỊCH
    A. MAKARENKÔ (1888 – 1939)
    1. NÓI CHUYỆN VỚI ÔNG GIÁM ĐỐC
    SỞ GIÁO DỤC
    2. NHỮNG BƯỚC ĐẦU KHÔNG VINH
    QUANG CỦA TRẠI GORKI
    3. ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỮNG NHU CẦU
    CẦN THIẾT NHẤT
    4. ĐẤU TRANH NỘI BỘ
    5. VIỆC QUỐC GIA
    6. CHIẾM ĐƯỢC CÁI THÙNG SẮT
    7. XÂY DỰNG MỘT THẾ GIỚI THÌ
    CŨNG PHẢI CÓ ĐỦ MỌI THỨ”
    8. TÍNH CÁCH VÀ VĂN HÓA
    9. ”Ở ĐẤT UKREN VẪN CÒN CÓ

    NHỮNG TAY HẢO HÁN"
    10. NHỮNG “CHIẾN SĨ GIÁO DỤC XÃ
    HỘI”
    11. THẮNG LỢI VỀ CÁI MÁY GIEO HẠT
    12. BRATSENKÔ VÀ ÔNG ỦY VIÊN
    CUNG CẤP LƯƠNG THỰC
    13. ÔTXATSI
    14. NHỮNG LỌ MỰC “TỎ TÌNH LÂN
    MỤC”
    15. “ĐỨA CỦA CHÚNG TA ĐẸP NHẤT”
    16. “CHÁO YẾN MẠCH”
    17. SARIN ĐƯỢC TRẢ NỢ
    18. "LIÊN MINH" VỚI NÔNG DÂN
    19. RÚT THĂM
    20. SINH SÚC VÀ NÔNG CỤ
    21. NHỮNG LÃO GIÀ TAI HẠI
    22. CHẶT CHÂN TAY
    23. NHỮNG HẠT GIỐNG CHỌN LỌC.

    24. CON ĐƯỜNG ĐAU KHỔ CỦA
    XÊMIÔN
    25. MỘT LỐI SƯ PHẠM THẦY QUYỀN
    26. NHỮNG QUÁI VẬT CỦA TRẠI THỨ
    HAI
    27. CHINH PHỤC ĐOÀN KÔMXÔMÔN
    28. MỞ ĐẦU TIẾN HÀNH KHÚC
    THẮNG LỢI
    PHỤ LỤC

    LỜI NÓI ĐẦU

    Antôn Xêmiônôvich Makarenkô, nhà
    giáo dục học vĩ đại của Liên-xô, xuất
    thân từ một gia đình công nhân. Cha
    mẹ ông đã phải chịu mọi sự thiếu thốn
    để cho ông theo học. Thầy giáo của
    ông, Kaminxki, một nhà giáo dục tiến
    bộ, khuyến khích ông theo nghề dạy
    học. Năm 17 tuổi, ông vào ngành giáo
    dục, dạy học ngay ở xưởng làm việc
    của cha. Học trò là con công nhân.
    Cuộc thí nghiệm giáo dục đầu tiên
    trong một tập thể công nhân - ở đó sau
    này xuất hiện khá nhiều chiến sĩ
    bônsêvích - đã đóng một vai trò quan

    trọng trong những quan niệm sư phạm
    của Makarenkô. Lúc đó là năm 1905.
    Năm 1905, ông viết, một tiếng sấm làm
    rung chuyển đất nước Nga. Ông đã
    tham gia những cuộc mít tinh biểu tình
    của công nhân, thường xuyên đọc tờ
    báo bônsêvích "Cuộc sống mới", được
    biết Maxim Gorki, mê say những tác
    phẩm của Lênin, nhất là cuốn "Tổ chức
    Đảng và văn học của Đảng". Năm 1914,
    Makarenkô vào học ở học viên sư phạm
    Pôntava và bắt đầu viết văn, làm thơ.
    Năm 1917, tốt nghiệp sư phạm, ông trở
    về thành phố quê hương dạy học.
    Năm 1920, vì tình hình phản cách
    mạng và sự can thiệp của nước ngoài,
    nước Nga bị tàn phá, đói rét, hàng

    ngàn trẻ lang thang trên các đường
    phố, bám vào các toa tàu, phá phách
    các chợ búa, nạn mãi dâm nghiêm
    trọng. Nhà tù đầy thanh thiếu niên
    phạm pháp. Làm thế nào cải tạo chúng,
    đưa chúng trở lại cuộc sống bình
    thường, tham gia vào xã hội mới?
    Makarenkô là một trong những nhà
    giáo dục được cử ra đảm nhiệm công
    tác nặng nề đó. Và ông là nhà giáo dục
    đầu tiên đã đặt vấn đề và giải quyết
    vấn đề theo những phương hướng độc
    đáo.
    Mùa thu năm 1920, Ty Giáo dục
    tỉnh Bôntapski ủy nhiệm Makarenkô
    thành lập một công xã lao động gồm
    các em phạm pháp chưa đến tuổi

    trưởng thành, mang tên công xã Maxim
    Gorki. Công xã này được mô tả lại
    trong tác phẩm "Bài ca sư phạm". Năm
    1927, Makarenkô xây dựng một công xã
    lao động thứ hai, mô tả trong tác phẩm
    "Những ngọn cờ trên tháp".
    Năm 1934, Makarenkô trúng cử hội
    viên Hội nhà văn Xô Viết và năm 1938,
    tham gia lãnh đạo Ủy ban phụ trách
    các công xã lao động ở Ukren. Ông là
    một nhà văn có biệt tài, đại biểu cho
    chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.
    Tháng 2 năm 1939, ông được tặng
    thưởng huân chương Lao động Cờ đỏ
    vì thành tích rực rỡ và thành quả trong
    việc phát triển văn học xô-viết.
    Những

    tác

    phẩm

    chính

    của

    Makarenkô gồm: Bài ca sư phạm,
    Những ngọn cờ trên tháp, Tiến hành khúc
    năm 1930, Cuốn sách của những người
    làm cha mẹ, và rất nhiều bài diễn
    giảng, những bài báo về giáo dục.
    Có thể nói trong nền giáo dục học
    thế giới, ngoài Usinxki ra, không có
    một nhà lý luận và một nhà hoạt động
    thực tiễn nào xuất sắc như Makarenkô.
    Những tác phẩm của ông được dịch ra
    hàng chục thứ tiếng trên thế giới.
    Hiện nay ở Liên-xô, toàn bộ tác
    phẩm của ông được ghi trong chương
    trình học của tất cả các học viện sư
    phạm, và có ảnh hưởng sâu sắc đối với
    toàn bộ hệ thống giáo dục của Liên-xô.

    Những tác phẩm của ông có tính tư
    tưởng và tính nghệ thuật cao chính vì
    ông đã miêu tả sâu sắc cuộc sống và
    chính ông đã tham gia tích cực vào
    cuộc sống đó.
    "Bài ca sư phạm” là một trong
    những tác phẩm của Makarenkô được
    người đọc ham thích nhất. Tác phẩm
    này cũng đã được dựng thành phim.
    Bài ca sư phạm là gì?
    Đó là bài ca chiến thắng của những
    quan điểm giáo dục macxi - Lêninit.
    Đó là thành công rực rỡ của
    Makarenkô trong việc cải tạo hàng
    ngàn trẻ lưu manh, tội lỗi, biến chúng
    từ chỗ là "cặn bã” của xã hội trở thành

    những công dân tích cực của xã hội xôviết: những người công nhân, những
    nhà sử học, nhà địa chất, nhà giáo dục,
    những kỹ sư, bác học, thầy thuốc, nghệ
    sĩ; nhiều người được thưởng huân
    chương, có người trở thành anh hùng
    xô-viết.
    Bài ca sư phạm thể hiện những quan
    điểm cơ bản nhất về giáo dục của chủ
    nghĩa Mác - Lênin. Có thể tóm tắt
    những quan điểm cơ bản đó như sau:
    Quan điểm thứ nhất, quan điểm
    quan trọng nhất của Makarenkô, là “ý
    niệm về con người, thái độ macxit đối
    với con người”. Có thể coi quan điểm
    này là quan điểm xuất phát, tư tưởng
    giáo dục chỉ đạo của ông. Đó là lòng

    nhân đạo xã hội chủ nghĩa đối với con
    người. Makarenkô nói: “Tất cả hệ
    thống giáo dục xô-viết nhằm thực hiện
    khẩu hiệu của Xtalin về sự săn sóc
    thương yêu đối với con người”. Theo
    ông, khái niệm "trẻ hư hỏng” là một
    điều vô nghĩa. Ông không công nhận có
    trẻ xấu từ lúc lọt lòng mẹ, có trẻ phạm
    tội mà không thể cứu chữa được."...
    Khoa sư phạm bình thường, hoạt động
    hướng theo một mục đích, sẽ biến đổi
    tập thể trẻ con thành một tập thể rất
    bình thường. Không có trẻ tội lỗi từ lúc
    lọt lòng, không có trẻ mới sinh đã mang
    tính xấu. Đối với tôi, theo kinh nghiệm
    bản thân, điều nhận định này được
    kiểm nghiệm đúng trăm phần trăm.”.

    Thái độ của ông là một thái độ lạc
    quan cách mạng. Chính những nhân vật
    của Maxim Gorki đã giúp ông có được
    thái độ lạc quan ấy. "Gorki lạc quan
    không những vì thấy trước một nhân
    loại sung sướng, không những vì thấy
    hạnh phúc trong dông tố, mà còn vì đối
    với Gorki mọi người đều đẹp. Đẹp
    không những theo ý nghĩa luân lý và xã
    hội, mà đẹp cả về mặt thẩm mỹ và sức
    mạnh".
    Vì vậy, theo Makarenkô, "nhà sư
    phạm phải đi đến với từng người với
    một giữ thuyết lạc quan, dù có phải lầm
    lẫn chăng nữa". Cũng như Gorki, ông
    từ chối không dựa trên những khía
    cạnh tiêu cực và ốm yếu của con người.

    Ông tìm ra ở mỗi trẻ, mặc dầu cảnh
    ngộ bi đát tuyệt vọng đến thể nào, một
    niềm hy vọng, một khía cạnh tích cực
    để phát huy lên, làm nảy nở ra mọi tiến
    bộ. Chính vì thương yêu con người, tôn
    trọng con người nên phải yêu cầu ở
    đứa trẻ càng nhiều càng tốt."Càng tôn
    trọng con người bao nhiêu, càng yêu
    cầu bấy nhiêu”. Yêu cầu đối với đứa trẻ
    biểu thị sự tôn trọng đối với sức lực và
    khả năng của nó. Và ngược lại, tôn
    trọng bao hàm ý nghĩa phải đòi hỏi,
    phải yêu cầu. Yêu cầu càng nhiều, đứa
    trẻ càng tin ở khả năng của nó, càng
    thấy tự hào. Bài ca sư phạm là một bức
    tranh tuyệt đẹp, một bài thơ tuyệt diệu
    về niềm tin tưởng ở bản chất tốt đẹp

    của con người. Có đứa trẻ, trước kia đã
    từng ăn cắp giết người, nay được
    Makarenkô trao cho giữ súng, ủy nhiệm
    cho đi lĩnh những món tiền rất lớn. Một
    lần, vì thái độ hỗn láo quá đáng,
    Makarenkô đánh Zađôrôp, một trong
    những đứa cầm đầu. Về sau, nhiều lần
    ông nhắc lại việc đó, cho đấy là dấu
    hiệu về sự hoang mang và tuyệt vọng
    cực độ của nhà giáo dục. Suốt đời, ông
    chống lại chủ trương trừng phạt về thể
    xác. Vì thế, ta không nên hiểu lầm sự
    việc đó mà cho rằng khi cần thiết cũng
    phải đánh trẻ.
    Công xã lao động trong Bài ca sư
    phạm mang tên Maxim Gorki và cuốn
    tiểu thuyết kết thúc với cuộc đến thăm

    công xã của Maxim Gorki nói lên ảnh
    hưởng sâu sắc của Gorki đối với những
    quan điểm sư phạm của Makarenkô.
    Quan điểm thứ hai là “giáo dục
    trong lao động”. Đây là nguyên lý cơ
    bản nhất của nền giáo dục xã hội chủ
    nghĩa, một nền giáo dục dựa trên học
    thuyết Mác - Lênin. Trong thực tế cũng
    như trong lý luận, Makarenkô chỉ rõ
    rằng: lao động không những là mục
    đích giáo dục mà còn là phương tiện
    giáo dục. Hoạt động lao động của trẻ
    trong công xã Gorki chiếm một vị trí
    hết sức quan trọng, lao động tự phục vụ
    và lao động sản xuất. Chính vì nắm
    vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin về giáo dục, chính vì thực hiện

    sự kết hợp giữa học lập và lao động
    sản xuất trong các công xã lao động
    nên Makarenkô ngay từ đầu đã thấy rõ
    được những nét lớn về giáo dục kỹ
    thuật tổng hợp. Phần cuối tác phẩm Bài
    ca sư phạm cho biết Makarenkô lãnh
    đạo một trại lao động thứ hai ở Ukren,
    ông lập một trường phổ thông 10 năm,
    một xưởng chế tạo máy ảnh Lâyka và
    một xưởng chế tạo dụng cụ điện. Các
    xưởng này giúp trại tự lập hoàn toàn.
    Từ sản xuất nông nghiệp và thủ công
    nghiệp đến sản xuất công nghiệp, đó là
    bước tiến mới về mặt giáo dục kỹ thuật
    tổng hợp.
    Trước khi chết, ngày 9 tháng 3 năm
    1939, phát biểu trong một cuộc dạ hội,

    Makarenkô nói: "Tôi là người đứng về
    phía các quá trình sản xuất trong nhà
    trường, thậm chí quá trình sản xuất
    đơn giản nhất, dễ tiến hành nhất, buồn
    tẻ nhất. Tôi nghĩ rằng loại trường học
    sản xuất như vậy, một thời gian nữa
    chúng ta sẽ có,..”. Thí nghiệm của
    Makarenkô trong các công xã lao động
    giúp ích cho sự phát triển phương
    hướng giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Đến
    đại hội 19, rồi 20, 21 của Đảng Cộng
    sản Liên-xô, nguyên lý giáo dục kỹ
    thuật tổng hợp được phát triển thành
    một hệ thống lý luận rất phong phú.
    Nhưng Makarenkô là nhà giáo dục học
    đầu tiên đã tìm ra cách áp dụng cụ thể
    nguyên lý giáo dục kỹ thuật tổng hợp.

    Trẻ ở trong công xã lao động đã làm
    quen dần với những nguyên lý chung về
    kỹ thuật, về tổ chức sản xuất, về những
    động tác đơn giản và cơ bản về sản
    xuất nông nghiệp, về cơ khí và về điện
    lực. Qua giáo dục lao động, nhiều trẻ
    "tội lỗi” đã được cải tạo về tư tưởng và
    về sau trở nên những nhà chuyên môn
    giỏi, công nhân lành nghề, bác sĩ, kỹ
    sư, phi công, bác học.
    Không những trẻ hư hỏng cần được
    cải tạo trong lao động mà trẻ bình
    thường cũng cần được giáo dục trong
    lao động, Không những nhà trường mà
    cả gia đình cũng cần giáo dục thanh
    thiếu niên qua công tác lao động từ
    thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp.

    Quan điểm lao động là đức tính tốt đẹp
    nhất là cơ sở của nền đạo đức xã hội
    chủ nghĩa. Theo Makarenkô, trên đất
    nước xô-viết, lao động phải là Lao
    động sáng tạo, lao động tự giác, lao
    động phải là hình thức biểu hiện chủ
    yếu của cá tính và tài năng. Chính quá
    trình tham giữ lao động sẽ rèn luyện
    đạo đức xã hội chủ nghĩa, đoàn kết
    chặt chẽ những người lao động, xây
    dựng tình bạn chân chính. Cần giáo
    dục trẻ chống tâm lý ỷ lại, đòi hỏi, ăn
    sẵn. Người giáo viên xã hội chủ nghĩa
    phải giáo dục những con người hăng
    hái lao động, động viên thái độ sáng
    tạo trong lao động, phát triển thể lực
    và trí lực, phát huy khả năng tổ chức,

    biết "điều khiển, chú ý, tính toán, xem
    xét, sáng tạo, cần mẫn và vị tha ".
    Quan điểm cơ bản thứ ba của
    Makarenkô là “giáo dục trong tập thể,
    bằng tập thể”. Đây là tư tưởng giáo dục
    trung tâm của ông. Quan điểm này thể
    hiện rất rõ trong hoạt động của các
    công xã lao động, trong Bài ca sư phạm
    cũng như trong Những ngọn cờ trên
    tháp. Xuất phát từ lời dạy của Lênin về
    những quan hệ giữa cá nhân và tập thể
    trong xã hội xã hội chủ nghĩa,
    Makarenkô đã nghiên cứu những mối
    quan hệ đó và rút ra những ứng dụng
    thực tế vào công tác giáo dục.
    Makarenkô đã sớm thấy cùng với
    Krupxkaia và Kalinin, một nguyên tắc

    quan trọng: tập thể là biện pháp giáo
    dục tốt nhất. "Chính tập thể là người
    giáo dục tốt nhất”. Vì thế "tác động sư
    phạm có tổ chức phải hướng vào tập
    thể": tập thể công xã lao động, tập thể
    trường học, tập thể gia đình, tập thể
    Đoàn Thanh niên Đội Thiếu niên. Rút
    kinh nghiệm từ thực tế, Makarenkô đã
    xây dựng hẳn một lý luận về sự phát
    triển của tập thể, phong cách của tập
    thể.
    Tác phẩm Bài ca sư phạm là dẫn
    chứng cụ thể về quá trình hình thành
    tập thể. Lúc đầu, tập thể chưa hình
    thành, kỷ luật tự giác chưa có, nhà giáo
    dục phải đề ra yêu cầu, có khi phải độc
    đoán đề ra yên cầu. Khi chung quanh

    nhà giáo dục đã có một nhóm cốt cán,
    một cái nhân sẵn sàng bênh vực kỷ luật
    trật tự chung một cách có ý thức, đó là
    giai đoạn thứ hai. Giai đoạn thứ ba là
    giai đoạn mà tự tập thể đề ra yêu cầu.
    Lúc đó, nhà giáo dục chỉ còn đóng vai
    trò điều chỉnh lại một số yêu cầu nào
    đó đi hơi xa. Trình độ yêu cầu tới mức
    cao nhất khi mỗi đứa trẻ tự mình đề ra
    được yêu cầu cho bản thân và biết tự
    kiểm tra thái độ của mình. “... Từ yêu
    cầu độc đoán của nhà tổ chức đến yêu
    cầu tự do của mỗi đứa trẻ đối với bản
    thân nó trên cơ sở yêu cầu của tập thể,
    tôi cho đó là con đường cơ bản của quá
    trình tiến hóa của một tập thể trẻ xôviết.

    Trong một bức thư gửi Maxim
    Gorki, Makarenkô viết: "Tôi đã đạt
    được kết quả vì xuất phát từ nguyên tắc
    cơ bản sau đây: tập thể phải hoạt động,
    tập thể có thể xây dựng được bởi những
    con người hoạt động và chính trong sự
    hoạt động đó họ tự biến đổi.”. Nói về
    nguyên tắc giáo dục trong tập thể và
    bằng tập thể của Makarenkô, Zađôrôp,
    một đứa trẻ rất khó thích ứng, sau trở
    nên kỹ sư, đã viết: ". dần dà, quá trình
    giáo dục biến thành một quá trình tự
    giáo dục của tập thể. Thật là đặc sắc và
    không ngờ!".
    Trên đây, tôi chỉ nêu lên những
    quan điểm cơ bản nhất của Makarenkô
    về giáo dục. Nội dung tác phẩm Bài ca

    sư phạm còn chứa đựng nhiều bài học
    khác, phong phú và sinh động. Đọc kỹ
    tác phẩm, ta có thể rút ra nhiều bài học
    về quan điểm giáo dục, về kỹ thuật sư
    phạm.
    Tóm lại, tư tưởng chủ đề của
    Makarenkô trong Bài ca sư phạm là
    giáo dục những trẻ lưu manh, phạm
    pháp, sản phẩm của xã hội bóc lột,
    thành những công nhân yêu nước, giác
    ngộ, trung thành với chế độ xã hội chủ
    nghĩa, những chiến sĩ tích cực xây
    dựng chủ nghĩa xã hội. Để đạt được
    mục đích đó, nhà giáo dục phải tin
    tưởng sâu sắc ở bản chất tốt đẹp của
    con người, tôn trọng con người, phải
    nắm vững quan điểm giáo dục trong lao

    động, bằng lao động, và giáo dục trong
    tập thể, bằng tập thể. Đó là những quan
    điểm, những phương pháp giáo dục có
    tính vạn năng hiệu quả nhất, nó thể
    hiện căn bản nhất sự lãnh đạo của giai
    cấp công nhân, nó là bản chất của giai
    cấp công nhân.
    Nội dung tác phẩm Bài ca sư phạm
    diễn ra ở Liên-xô trong hoàn cảnh nội
    chiến, trong thời kỳ khôi phục kinh tế
    và bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
    Hoàn cảnh miền Bắc nước ta hiện nay
    có khác hoàn cảnh của Liên-xô lúc đó.
    Đặc điểm trẻ em nước ta - kể cả một số
    trẻ em hư hỏng - có khác đặc điểm
    những đối tượng giáo dục của
    Makarenkô trong Bài ca sư phạm.

    Nhưng những nguyên lý, những quan
    điểm cơ bản về giáo dục xã hội chủ
    nghĩa không thay đổi. Tôi tin chắc rằng
    những quan điểm giáo dục tiên tiến của
    Makarenkô sẽ rất có ích cho chúng ta,
    các giáo viên cũng như các cha mẹ học
    sinh.
    Ở nước ta, các tác phẩm của
    Makarenkô chưa được phiên dịch đầy
    đủ. Nay Nhà xuất bản Văn hóa, lần đầu
    tiên, dịch tác phẩm Bài ca sư phạm, tác
    phẩm nổi tiếng nhất của Makarenkô.
    Tôi tin rằng bản Bài ca sư phạm sẽ
    được bạn đọc hoan nghênh, nhất là các
    bạn giáo viên. Đọc nó, nghiền ngẫm,
    suy nghĩ, chắc chắn chúng ta rút ra
    được nhiều bài học quí báu, không

    những để giáo dục trẻ em hư mà cả
    những trẻ em bình thường trong mỗi
    gia đình, trong mỗi trường học.
    Tháng 6 năm 1962
    NGUYỄN SĨ TỲ
    Viện phó Viện nghiên cứu
    Khoa học giáo dục
    Bộ Giáo dục

    LỜI NGƯỜI DỊCH

    Đề cập tới vấn đề cải tạo những con
    người xấu của chế độ cũ để lại, chủ tịch
    N. X. Khrutsôp, trong bài nói chuyện ở
    Đại hội các nhà văn lần thứ ba, ngày 225-1959, đã xác định rằng:
    Muốn đưa một con người như vậy
    vào con đường ngay thẳng, cần có một
    thái độ khác (với thái độ nghi kỵ, ruồng
    bỏ - H. M.) cần phải tin ở con người, tin
    vào những đức tính tốt nhất của con
    người. Người đó có thể tham gia tích cực
    vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng
    sản được không? Có thể được các đồng

    chí ạ!
    Trong việc miêu tả những trường hợp
    như thế, tôi khó lòng mà thi đua được
    với tác giả quyển Bài ca sư phạm, Antôn
    Xêmiônôvich Makarenkô, nhà văn nổi
    tiếng và được mọi người đều kính trọng.
    Ông đã cho ta thấy cái cao quý của con
    người, cái sức mạnh lớn lao của lòng tin
    ở con người. Và tất cả chúng đều biết rõ
    những người, trước kia là trộm cắp và
    giết người đã được săn sóc và tin tưởng
    đã đền đáp lại lòng tin ấy gấp trăm ngàn
    [1]
    lần như thế nào .
    Tên tuổi Makarenkô vang dội tới
    chúng ta từ lâu.
    Tác phẩm Bài ca sư phạm đã được

    giới thiệu với nhân dân Việt Nam ngay từ
    năm 1956 qua cuốn phim cùng tên và chỉ
    ít lâu sau, một cuốn phim khác, cũng
    mang tên một tác phẩm lớn khác của ông
    Những ngọn cờ trên tháp, lại được
    chiếu trên các màn ảnh Việt Nam. Gần
    đây, Nhà xuất bản Giáo dục cũng đã xuất
    bản các bản dịch những cuốn Lời khuyên
    [2]
    các vị phụ huynh
    và Cuốn sách của
    [3]
    những người làm cha mẹ
    của ông.
    Tất cả những phim và sách ấy đều được
    quảng đại quần chúng nước ta hết sức
    hoan nghênh. Đặc biệt phim Bài ca sư
    phạm đã gây một xúc động mạnh mẽ
    trong các tầng lớp thanh niên nam nữ và
    khiến các nhà giáo dục cũng như những

    người làm cha mẹ phải quan tâm suy nghĩ
    rất nhiều.
    Ở Liên Xô, sau khi cuộc cách mạng
    vô sản thành công và bắt đầu xây dựng
    cơ sở về mọi mặt cho chủ nghĩa xã hội,
    thì vấn đề giáo dục thanh niên, nhất là
    các thanh niên hư hỏng, nạn nhân của chế
    độ cũ và của thời kỳ tao loạn, lập tức
    được đặt ra với tất cả tầm quan trọng to
    lớn và cấp thiết của nó.
    Năm 1920 được giao cho cái trọng
    trách cải tạo những trẻ vị thành niên
    “phạm pháp ”, những trẻ con vô thừa
    nhận kéo lê cuộc sống bi thảm, đói rách
    trên những bờ hố của trụy lạc, bên cống
    rãnh của những thành phố chưa hẳn hết bị
    đe dọa vì nạn thổ phỉ, sau cuộc Cách

    mạng tháng Mười, Makarenkô đã làm thế
    nào để biến những thanh niên tưởng
    chừng không tài nào cảm hóa được ấy
    thành những người công dân tốt của tổ
    quốc Xô Viết, những người phải có cái
    nhiệm vụ tích cực xây dựng chủ nghĩa
    cộng sản?
    Marakenkô không phải là một nhà lý
    luận phòng giấy. Ông không dựa vào
    những nguyên tắc trừu tượng nào để tìm
    phương pháp sư phạm. Là một người
    hoạt động, và thấm nhuần sâu sắc nguyên
    lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, ông đã nhìn
    thẳng vào thực tế biện chứng của đời
    sống với những cá tính vô cùng phức tạp
    và sinh động của các trẻ nuôi giao phó
    cho ông. Một lòng tin mãnh liệt ở những

    khả năng tốt đẹp của con người hướng
    dẫn mọi hành động của ông, đem cho ông
    sức mạnh vượt qua mọi trở ngại trong
    những giờ đen tối nhất. Thêm vào đấy,
    một đức tính nhẫn nại vô song, không
    bao giờ biết nản, một tình yêu sâu sắc
    đối với con người mà ông luôn luôn tôn
    trọng ở mỗi đứa trẻ, một nhiệt tình nghệ
    sĩ lúc nào cũng tỉnh táo để phát hiện ở nó
    những ánh lửa thiêng, những bông hoa
    chớm nở mà ông hết sức bồi dưỡng, nâng
    niu, một tinh thần vì người cao cả, quên
    mình và hy sinh hết thảy để chăm lo săn
    sóc từng li từng tí đến đời sống của các
    trẻ nuôi, khiến ông dần dần đi sâu vào
    tận cùng các ngõ ngách tâm hồn chúng,
    được chúng kính trọng và nhất là yêu

    mến. Bài ca sư phạm cũng là một bài ca
    chủ nghĩa nhân đạo của con người cộng
    sản.
    Cuốn sách đó kết tinh những kinh
    nghiệm sống của Marakenkô trong việc
    xây dựng trại Gorki, trại lao động cải tạo
    đầu tiên cho thiếu nhi ở Liên Xô. Bị đặt
    trước những tình trạng khó khăn, có khi
    nguy hiểm, hầu như tuyệt vọng, ông thuật
    lại chuyện những nghi ngờ, những sai
    lầm, những lo âu, những tức giận và sau
    cùng là những thành công đã đền đáp lại
    cái nghị lực không thể khuất phục được
    [4]
    của ông .
    Nhưng không nên tưởng đây là một
    câu chuyện khắc khổ, với những hình

    thức khô khan, đóng chắc trong khuôn
    khổ một bản báo cáo. Trong Bài ca sư
    phạm, Marakenkô tỏ ra là một nhà nghệ
    thuật có tài, trên cơ sở những tài liệu cụ
    thể của cuộc sống đã tái hiện quá trình
    hình thành con người mới… Ông đã biết
    đem vào quyển tiểu thuyết của mình
    những yếu tố nói lên tiền đồ tương lai, sự
    tiến triển của đất nước, của xã hội, tức là
    thể hiện cuộc sống trong sự vận động đi
    [5]
    lên của nó .
    Những sự việc được miêu tả trong
    truyện là tất cả cuộc sống vô cùng phong
    phú của cải xã hội thiếu nhi không ngừng
    biến chuyển – cũng như cái xã hội lớn
    nói chung- cuộc sống có những khía cạnh
    ngây thơ nhất định nhưng cũng đầy rẫy

    những nét khiến người ta phải ngạc nhiên
    và nghi ngờ. Mấy trăm nhân vật, kể cả trẻ
    con và người lớn, xuất hiện trên những
    trang sách, là cả một thế giới rộng lớn vì
    quy mô diễn biến của nó trong không
    gian và thời gian, một thế giới phồn tạp,
    trong đó mỗi người mỗi vẻ đều được ghi
    rất nhanh bằng vài lời sắc gọn, chắc như
    một nhát dao, một nhát búa làm nổi bật
    ngay tính cách điển hình. Nếu có những
    trang đượm một ý vị thơ đầm ấm, tả sự
    vui sống một buổi chiều đông chung
    quanh lò sưởi, mà các cây củi trong lò tự
    kể chuyện mình (phần II, chương 3), thì
    cũng có những trang đầy sự náo nức của
    chú trại viên đi chân đất nhưng thực sự
    làm chủ nhân ông, đem hết sức mình ra

    lao động xây dựng trại, chế ngự và sửa
    chữa cả những thiếu sót của thiên nhiên
    (phần II, chương 10). Và liền ngay sau
    đó, ta được nghe giọng trữ tình kỳ thú
    của con người đứng chỉ đạo tất cả những
    công cuộc ấy:
    Mỗi đứa trẻ đó có đường đi của nó,
    cũng như trại Gorki có đường đi của trại.
    Tôi cảm thấy tôi nắm trong tay rất nhiều
    đường xuất phát của cuộc đời ấy, song
    nhận cho ra những phương hướng, triển
    vọng và điểm kết thúc của những con
    đường đó trong đám sương mù của tương
    lai gần gũi thật khó khăn biết nhường
    nào. Giữa đám sương mù ấy hiện đang
    quay lộn trong lốc bão những yếu tố mà
    người ta chưa chi phối được, mà các kế

    hoạch và các khoa toán học chưa đặt
    được cho chúng một tên gì. Cuộc hành
    quân của chúng tôi xuyên qua những lực
    lượng không cân lường được ấy có cái
    vẻ mỹ quan của nó, cho nên vẻ mỹ quan
    của những thửa vườn hoa, vườn quả kia
    đã hết làm cho tôi cảm động.
    Thảng hoặc ở đây, ở đó, đôi khi cũng
    có một chút âm thầm chua chát không thể
    nào tránh được, trong những giờ phút
    ngờ vực cái kết quả công việc mình làm,
    nghĩ đến sự bạc bẽo của cuộc đời mình,
    dệt toàn bằng những vất vả và hy sinh
    trong bóng tối, nhưng cái đó chỉ là
    thoáng qua và hãn hữu, còn thường thì
    tác giả để lộ trên mỗi trang, hầu như trên
    mỗi dòng, một nụ cười vô cùng tinh tế và

    tế nhị. Nói là “để lộ” có lẽ không đúng
    lắm, và nụ cười cũng không hẳn là luôn
    luôn rõ rệt. Đúng hơn, nhiều khi đó chỉ là
    một cái nhếch môi, hoặc ta tưởng tượng
    ra như vậy, một cái gì rất kín đáo nhưng
    vô cùng sâu sắc và thấm thía, nó chính là
    một nét đặc biệt Marakenkô. Là dấu hiệu
    không thể lẫn được của bản chất trào
    tiếu, phúng thích, cái gọi là “uy mua”
    (humour) riêng của ông vậy. Đọc Bài ca
    sư phạm ta luôn luôn tưởng được thấy
    nét mặt ông cũng có phần nào giống nét
    mặt Lapô mà ông tả cứ “tỉnh khô “đi,
    kiểu “cù không cười “, trong khi hắn làm
    cho những người nghe hắn phải bò lăn ra
    cười vì những câu hóm hỉnh của hắn. Cái
    duyên ấy chỉ có thể có được ở những

    người mang sẵn trong lòng một tình yêu
    đời bất trị, nó phản ánh một niềm tin
    vững chắc ở mình, ở sức mạnh thuyết
    phục của mình, biết mình nắm được lẽ
    phải, nắm được chân lý.
    Nét mặt Marakenkô mà ta tưởng
    tượng ra đó có lẽ không sai lạc lắm, nếu
    đem so sánh với cách nhìn của đại văn
    hào Maxim Gorki trong buổi gặp gỡ đầu
    tiên của người với Marakenkô, bấy giờ
    đã gần bốn mươi tuổi:
    Người miêu tả cho ta thấy ông mới
    thoạt trông khá tầm thường, tóc cắt ngắn
    kiểu bàn chải, một cái mũi khá lớn, một
    bộ ria mép ngắn, đôi mắt màu lam xám
    đột nhiên ánh lên vẻ tinh quái, một kiểu
    ăn mặc giản dị, hầu như kiểu quân nhân,

    dáng điệu vừa là của một nhà giáo thôn
    quê vừa là của một người lính. Thoạt
    mới gặp, Marakenkô cho người ta cái ấn
    tượng là hơi lạnh lùng, hơi kín đáo, bởi
    vì ông ưa lặng lẽ nghe hơn, đầu hơi
    nghiêng nghiêng tựa hồ ông đang in lấy
    một dấu hữu hình nào đó của người nói
    chuyện với mình (ông ta biết nắm ngay
    tức khắc được những nét đặc thù chủ yếu
    của một người mới đến, đóng nó vào một
    câu đầy ý nghĩa thấm thía và trào lộng),
    thế rồi một nụ cười hiền hậu bỗng làm
    biến dạng cái bộ mặt hơi buồn ấy và đến
    lượt Makarenkô bắt đầu nói bằng một
    giọng hơi ồm ồm, hơi khàn khàn, nhưng
    [6]
    vô cùng giàu tiết điệu ý nhị .
    Tác giả của những dòng trên đây còn

    cho ta biết thêm:
    * Bản chất nghệ sĩ rất sâu sắc, say mê
    hết thảy mọi cảnh sắc thiên nhiên cũng
    như say mê sân khấu, âm nhạc và thi ca,
    Makarenkô biết tạo ra cái đẹp ở quanh
    mình, và bọn trẻ cảm thấy ngay tức khắc
    những cố gắng của ông để làm cho cuộc
    sống của chúng đẹp đẽ hơn lên.
    * Dậy từ 5 giờ sáng, ít khi ngủ trước
    1 giờ, Makarenkô khiến những người
    xung quanh phải ngạc nhiên vì sức làm
    việc không thể nào tin được của ông: ông
    có cái tài ở bất cứ chỗ nào cũng có mặt
    cùng một lúc mà không bao giờ có vẻ gì
    là hối hả cả. Là một nhà tổ chức giỏi bậc
    nhất, ông có thể đồng thời làm nhiều
    công việc song song mà không hề rối trí

    vì sự những đứa trẻ nuôi của ông cứ đi
    [7]
    đi lại lại .
    Chính cái sức làm việc không biết
    mệt ấy và cái tổ chức lạ lùng ấy đã khiến
    Makarenkô, “nhà sư phạm lớn nhất của
    thời đại chúng ta “(S. O. M. Nubarôp)
    đồng thời là nhà văn lỗi lạc mà Chủ tịch,
    N. X. Khrutsôp ca ngợi một cách rất
    xứng đáng ấy, đã có những địa bàn hoạt
    động rất khác nhau (xem lược kê những
    tác phẩm của ông ở phần phụ lục, tập 3)
    và đã kể lại cho chúng ta một di sản văn
    học và sư phạm vô cùng quý báu.
    Chúng ta cần phải khai thác cái di
    sản ấy. Nếu Makarenkô đã tìm những
    gương sống trong các nhân vật của

    Maxim Gorki để lần ra con đường đi vào
    tâm tư của con người, phát hiện ở nó
    những giá trị, những khả năng thiện mỹ,
    dù chỉ là một mầm mống rất non yếu, một
    liều lượng rất ít ỏi của cái bản chất tốt ẩn
    giấu dưới những hiện tượng thảm hại
    nhất của sự cùng khốn và sự hư hỏng đồi
    bại, thì đến lượt chúng ta, chúng ta há
    không thấy sự bổ ích tìm trong những
    gương sống ngay trong các nhân vật của
    chính Makarenkô? Những Zađôrôp,
    Burun, Bratsenkô, Karabanôp, Gut,
    Galatenkô, Fêđôrenkô, Kutlaty, Ôpriskô,
    Taranet, Tsôbô, Vecsơnep, Vetkôpxki, là
    chỉ kể những tên tình cờ nhớ tới, và
    những nữ trại viên Ôlia Vôrônôva,
    Natasa Pêtrenkô, Naxchia Nôtsêvnaia,

    Raitxa Xôkôlôva, v.v… Bao nhiêu tiêu
    bản của một cái nhân loại phức tạp mà
    giản dị, kỳ quái mà dễ hiểu, ô hợp mà
    đồng nhất, từ vẻ ngoài: y phục, tư thế,
    đến những nét chủ đạo của tâm hồn: tình
    vui sống, lòng tin yêu chế độ, quyết tâm
    bảo vệ nó đến cùng. Đồng nhất nhưng
    không phải rập khuôn, vì ai nấy vẫn mỗi
    người mỗi vẻ, không ai giống ai, như trên
    một bức khảm sà cừ mà mầu sắc lung
    linh thay đổi không cùng, tùy theo góc
    của người đứng ngắm. Có nhà sư phạm
    nào không thèm muốn được nói như tác
    giả:
    Cuộc sống ở trại bây giờ tốt
    đẹp và có trật tự, trông thấy vậy tôi tự
    hào về phần đóng góp của mình làm cho

    đất nước này thêm đẹp đẽ. Song về
    phương diện thẩm mỹ tôi cũng có những
    ý thích riêng của tôi: các thứ hoa, các
    đường nhỏ đi dạo mát và các gốc cây cối
    um tùm đều không làm cho tôi một phút
    nào mất hút được những đứa trẻ mặc
    quần cụt màu lam và sơ mi trắng nọ. Các
    chú bé đó hiện thời đang chạy lăng xăng
    hay bình tĩnh đi lại giữa các tân khách,
    bận rộn chung quanh những bàn tiệc,
    hoặc đứng vững ở nơi phận sự, ngăn
    không cho ùa vào trại bằng mấy trăm kẻ
    ngốc nghếch đến xem một đám cưới xưa
    [8]
    nay chưa từng có : đó là các trại viên
    Gorki. Thon mảnh và chỉnh chện, mình
    lẳn chắc và mềm mại, gân guốc và lành
    mạnh, thân thể không biết đến thuốc men

    là gì và gương mặt nào cũng môi đỏ hồng
    hào. Những gương mặt như thế được tạo
    nên ở trại: khi ở ngoài phố vào đây
    chúng không như vậy?
    Kết quả thật nức lòng, tuy nó chỉ mới
    đánh dấu một chặng đầu tiên trên đường
    đi tới đích của trại. Nhưng đạt được tới
    được kết quả đầu tiên ấy cũng đã phải
    tốn biết bao tâm tư, trải qua biết bao giờ
    lo âu phiền muộn, mỗi lúc có thể chỉ
    muốn “tung hê” tất cả, bỏ đấy mà đi, như
    một vài giáo viên của trại đã có lần thoái
    chí thốt ra lời. Bởi vì mỗi “chú bé” kia
    là cả một thế giới riêng, mỗi hành động
    tội lỗi của chú đều bắt nguồn từ những
    động cơ ích kỷ và những ý nghĩ sai lầm
    mà quãng đời quá khứ của chú, trước khi
     
    Gửi ý kiến