Truyền Kỳ Mạn Lục

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Ngọc Nam (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:17' 06-11-2024
Dung lượng: 770.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Ngọc Nam (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:17' 06-11-2024
Dung lượng: 770.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Lời tựa
Nhà văn Việt Nam, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay
thuộc Thanh Miện, Hải Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm
ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã ra làm quan. Sau vì bất
mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó "trải
mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành". Chưa rõ Nguyễn
Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống đồng thời với thầy học là
Nguyễn Bỉnh Khiêm, và bạn học là Phùng Khắc Khoan, tức là vào
khoảng thế kỷ XVI và để lại tập truyện chữ Hán nổi tiếng viết trong
thời gian ở ẩn, Tryền kỳ mạn lục (in 1768, A. 176/1-2) . Truyện được
Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời
dịch ra chữ nôm. Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng tản
văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình
của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả. Hầu
hết các truyện xảy ra ở đời Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc đời Lê sơ từ
Nghệ An trở ra Bắc. Lấy tên sách là Truyền kỳ mạn lục (Sao chép
tản mạn những truyện lạ) , hình như tác giả muốn thể hiện thái độ
khiêm tốn của một người chỉ ghi chép truyện cũ. Nhưng căn cứ vào
tính chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là
một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân
lục... mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Đó
là một tập truyện phóng tác, đánh dấu bước phát triển quan trọng
của thể loại tự sự hình tượng trong văn học chữ Hán. Và nguyên
nhân chính của sự xuất hiện một tác phẩm có ý nghĩa thể loại này là
nhu cầu phản ánh của văn học. Trong thế kỷ XVI, tình hình xã hội
không còn ổn định như ở thế kỷ XV; mâu thuẫn giai cấp trở nên gay
gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa
mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay, chiến tranh phong kiến ác liệt
và kéo dài, đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt, cuộc sống
không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực. Muốn phản ánh thực tế
phong phú, đa dạng ấy, muốn lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc
sống đầy biến động ấy thì không thể chỉ dừng lại ở chỗ ghi chép sự
tích đời trước. Nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại
văn học. Và Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức
lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn
từ... tái tạo thành những thiên truyện mới. Truyền kỳ mạn lục vì vậy,
tuy có vẻ là những truyện cũ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực
thế kỷ XVI. Trên thực tế thì đằng sau thái độ có phần dè dặt khiêm
tốn, Nguyễn Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, qua đó ông bộc lộ
tâm tư, thể hiện hoài bão; ông đã phát biểu nhận thức, bày tỏ quan
điểm của mình về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong
khi chế độ phong kiến đang suy thoái.
Trong Truyền kỳ mạn lục, có truyện vạch trần chế độ chính trị đen
tối, hủ bại, đả kích hôn quân bạo chúa, tham quan lại nhũng, đồi
phong bại tục, có truyện nói đến quyền sống của con người như tình
yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, có truyện thể
hiện đời sống và lý tưởng của sĩ phu ẩn dật... Nguyễn Dữ đã phản
ánh hiện thực mục nát của chế độ phong kiến một cách có ý thức.
Toàn bộ tác phẩm thấm sâu tinh thần và mầu sắc của cuộc sống,
phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn
đề của xã hội, con người được đề cập tới. Bất mãn với thời cuộc và
bất lực trước hiện trạng, Nguyễn Dữ ẩn dật và đã thể hiện quan
niệm sống của kẻ sĩ lánh đục về trong qua Câu chuyện đối đáp của
người iều phu trong núi Nưa. ở ẩn mà nhà văn vẫn quan tâm đến
thế sự, vẫn không quên đời, vẫn nuôi hy vọng ở sự phục hồi của
chế độ phong kiến. Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là tư tưởng
Nho gia. Ông phơi bày những cái xấu xa của xã hội là để cổ vũ
thuần phong mỹ tục xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong kiến,
phủ định triều đại mục nát đương thời để khẳng định một vương
triều lý tưởng trong tương lai, lên án bọn "bá giả" để đề cao đạo
"thuần vương", phê phán bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh
quân hiền thần, trừng phạt bọn người gian ác, xiểm nịnh, dâm tà, để
biểu dương những gương tiết nghĩa, nhân hậu, thủy chung. Tuy
nhiên Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ thể hiện tư tưởng nhà nho,
mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của
ý thức hệ phong kiến. Nguyễn Dữ đã có phần bảo lưu những tư
tưởng phi Nho giáo khi phóng tác, truyện dân gian, trong đó có tư
tưởng Phật giáo, Đạo giáo và chủ yếu là tư tưởng nhân dân.
Nguyễn Dữ đã viết truyền kỳ để ít nhiều có thể thoát ra khỏi khuôn
khổ của tư tưởng chính thống đặng thể hiện một cách sinh động
hiện thực cuộc sống với nhiều yếu tố hoang đường, kỳ lạ. Ông
mượn thuyết pháp của Phật, Đạo, v. v. để lý giải một cách rộng rãi
những vấn đề đặt ra trong cuộc sống với những quan niệm nhân
quả, báo ứng, nghiệp chướng, luân hồi; ông cũng đã chịu ảnh
hưởng của tư tưởng nhân dân khi miêu tả cảnh cùng cực, đói khổ,
khi thể hiện đạo đức, nguyện vọng của nhân dân, khi làm nổi bật sự
đối kháng giai cấp trong xã hội. Cũng chính vì ít nhiều không bị gò
bó trong khuôn khổ khắt khe của hệ ý thức phong kiến và muốn
dành cho tư tưởng và tình cảm của mình một phạm vi rộng rãi, ông
hay viết về tình yêu nam nữ. Có những truyện ca ngợi tình yêu lành
mạnh, chung thủy sắt son, thể hiện nhu cầu tình cảm của các tầng
lớp bình dân. Có những truyện yêu đương bất chính, tuy vượt ra
ngoài khuôn khổ lễ giáo nhưng lại phản ánh lối sống đồi bại của nho
sĩ trụy lạc, lái buôn hãnh tiến. Nguyễn Dữ cũng rất táo bạo và phóng
túng khi viết về những mối tình si mê, đắm đuối, sắc dục, thể hiện
sự nhượng bộ của tư tưởng nhà nho trước lối sống thị dân ngày
càng phổ biến ở một số đô thị đương thời. Tuy vậy, quan điểm chủ
đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ lễ giáo, nên ý nghĩa tiến bộ toát
ra từ hình tượng nhân vật thường mâu thuẫn với lý lẽ bảo thủ trong
lời bình. Mâu thuẫn này phản ánh mâu thuẫn trong tư tưởng, tình
cảm tác giả, phản ánh sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong
tầng lớp nho sĩ trước nhu cầu và lối sống mới của xã hội. Truyền kỳ
mạn lục có giá trị hiện thực vì nó phơi bày những tệ lậu của chế độ
phong kiến và có giá trị nhân đạo vì nó đề cao phẩm giá con người,
tỏ niềm thông cảm với nỗi khổ đau và niềm mơ ước của nhân dân.
Truyền kỳ mạn lục còn là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật,
đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật. Nó vượt xa
những truyện ký lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống
riêng của nhân vật, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít đi
sâu vào nội tâm nhân vật. Tác phẩm kết hợp một cách nhuần
nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa
ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền
ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh
động. Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là "thiên cổ
kỳ bút", là "áng văn hay của bậc đại gia", tiêu biểu cho những thành
tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của
sáng tác dân gian.
BÙI DUY TÂN
Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính
Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) , được trao chức Thừa
chánh sứ, sau khi mất được tặng phong Thượng thư. Lúc nhỏ
Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy
văn chương nối nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, Nguyễn Dữ thi
Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh
Tuyền nhưng mới được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng
mẹ già. Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội, ông
miệt mài "ghi chép" để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành
tác phẩm "thiên cổ kỳ bút" Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Dữ sinh và
mất năm nào chưa rõ, nhưng căn cứ vào tác phẩm cùng bài Tựa
Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định thứ nhất
(1547) và những ghi chép của Lê Quý Đôn trong mục Tài phẩm sách
Kiến văn tiểu lục có thể biết ông là người cùng thời với Nguyễn Bỉnh
Khiêm, có thể lớn tuổi hơn Trạng Trình chút ít. Giữa Nguyễn Dữ và
Nguyễn Bỉnh Khiêm tin chắc có những ảnh hưởng qua lại về tư
tưởng, học thuật... nhưng e rằng Nguyễn Dữ không thể là học trò
của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Vũ Phương Đề đã ghi. Đối với nhà
Mạc, thái độ Nguyễn Dữ dứt khoát hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông
không làm quan với nhà Mạc mà chọn con đường ở ẩn và ông đã
sống cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục
được hoàn thành ngay từ những năm đầu của thời kỳ này, ước đoán
vào khoảng giữa hai thập kỷ 20-30 của thế kỷ XVI.
Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục là tác
phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ. Sách gồm 20 truyện, chia làm 4
quyển, được viết theo thể loại truyền kỳ. Cốt truyện chủ yếu lấy từ
những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất
phát từ truyền uyết về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ
Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên và đền thờ
Văn Dĩ Thành ở làng Gối, Hà Nội) . Truyện được viết bằng văn xuôi
Hán có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn, cuối mỗi truyện (trừ
truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình thể hiện rõ chính kiến
của tác giả. Hầu hết các truyện đều lấy bối cảnh ở các thời Lý-Trần,
Hồ, thuộc Minh, Lê sơ và trên địa bàn từ Nghệ An trở ra Bắc. Thông
qua các nhân vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ..., tác phẩm
muốn gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn
kỷ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm
nịnh hót đầy triều đình; những kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ
vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí đến chiếm đoạt vợ người,
bức hại chồng người. Trong một xã hội rối ren như thế, nhiều tệ nạn
thế tất sẽ nảy sinh. Cờ bạc, trộm cắp, tật dịch, ma quỷ hoành hành,
đến Hộ pháp, Long thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi, học trò,
thương nhân, nhiều kẻ đắm chìm trong sắc dục. Kết quả là người
dân lương thiện, đặc biệt là phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ. Nguyễn
Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này. Dưới ngòi bút của
ông họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu
lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi thảm. Đến cả loại
nhân vật "phản diện" như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký) ,
nàng Nhị Khanh (Mộc miên phụ truyện) , các hồn hoa (Tây viên kỳ
ngộ ký) và "yêu quái ở Xương Giang" cũng đều vì số phận đưa đẩy,
đều vì "nghiệp oan" mà đến nỗi trở thành ma quỷ. Họ đáng bị trách
phạt nhưng cũng đáng thương.
Dường như Nguyễn Dữ không tìm được lối thoát trên con đường
hành đạo, ông quay về cuộc sống ẩn dật, đôi lúc thả hồn mơ màng
cõi tiên, song cơ bản ông vẫn gắn bó với cõi đời. Ông trân trọng và
ca ngợi những nhân cách thanh cao, cứng cỏi, những anh hùng cứu
nước, giúp dân không kể họ ở địa vị cao hay thấp.
Truyền kỳ mạn lục ngay từ khi mới hoàn thành đã được đón nhận.
Hà Thiện Hán người cùng thời viết lời Tựa, Nguyễn Thế Nghi, theo
Vũ Phương Đề cũng là người cùng thời, dịch ra văn nôm. Về sau
nhiều học giả tên tuổi Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú đều
ghi chép về Nguyễn Dữ và định giá tác phẩm của ông. Nhìn chung
các học giả thời Trung đại khẳng định giá trị nhân đạo và ý nghĩa
giáo dục của tác phẩm. Các nhà nghiên cứu hiện đại phát hiện thêm
giá trị hiện thực đồng thời khai thác tinh thần "táo bạo, phóng túng"
của Nguyễn Dữ khi ông miêu tả những cuộc tình si mê đắm đuối
đậm màu sắc dục. Hành vi ấy tuy trái lễ, trái đạo trung dung nhưng
lại đem đến chút hạnh phúc trần thế có thực cho những số phận oan
nghiệt. Về mặt thể loại mà xét thì Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm
đỉnh cao của truyện truyền kỳ Việt Nam. Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng
của Cù Hựu nhưng Truyền kỳ mạn lục vẫn là "áng văn hay của bậc
đại gia", là sáng tạo riêng của Nguyễn Dữ cũng như của thể loại
truyện truyền kỳ Việt Nam.
TRẦN THỊ BĂNG THANH
Lời tựa (1)
Tập lục này là trước tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng
Châu. Ông là con trưởng vị tiến sĩ triều trước Nguyễn Tường Phiêu
(2) . Lúc nhỏ rất chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí
ở việc lấy văn chương truyền nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến,
nhiều lần thi Hội đỗ trúng trường, từng được bổ làm Tri huyện Thanh
Tuyền (3) . Được một năm ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo
hiếu. Mấy năm dư không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông
viết ra tập lục này, để ngụ ý. Xem văn từ thì không vượt ra ngoài
phên giậu của Tông Cát (4) , nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy
củ khuôn phép, đối với việc giáo hóa ở đời, há có phải bổ khuyết
nhỏ đâu!
Vĩnh Định năm đầu (1547) ,
tháng Bảy, ngày tốt.
Đại An Hà Thiện Hán kính ghi
Kẻ hậu học là Tùng Châu Nguyễn Lập Phu biên.
(1) Lời Tựa này được chép trong Cựu biên Truyền kỳ mạn lục. Bản
này hiện chưa có trong các thư viện ở Hà Nội. Ở đây chúng tôi theo
Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, Đài Loan thư cục in năm
1987. Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú in năm
Cảnh Hưng 35 (1774) lấy lại lời tựa này nhưng không ghi tên Hà
Thiện Hán. Cuối bài ghi thêm "Nay xã trưởng xã Liễu Chàng là
Nguyễn Đình Lân soạn in vào năm Giáp Ngọ (1774) để làm bản gốc
cho nghìn vạn đời và để bán cho thiên hạ xem đọc".
Chú thích
(2) Nguyễn Tường Phiêu: người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân,
nay thuộc tỉnh Hải Dương, đồ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân
năm Hồng Đức 27 (1496) đời Lê Thánh Tông; làm quan đến Thừa
chánh sứ. Sau khi mất được tặng chức Thượng thư, phong phúc
thần.
(3) Thanh Tuyền: tức huyện Bình Xuyên, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
(4) Tông Cát: Cù Tông Cát, tên là Cù Hựu, tác giả Tiễn đăng tân
thoại.
Câu chuyện ở đền Hạng Vương (*)
Quan Thừa chỉ Hồ Tông Thốc (1) là người hay thơ, lại giỏi lối mỉa
mai giễu cợt, khoảng cuối đời Trần, phụng mệnh sang Trung Quốc,
nhân đi qua đền Hạng vương có đề thơ rằng:
Bách nhị sơn hà khởi chiến phong,
Huề tương tử đệ nhập Quan Trung.
Yên tiêu Hàm Cốc châu cung lãnh,
Tuyết tán Hồng Môn ngọc đẩu không.
Nhất bại hữu thiên vong Trạch Tả,
Trùng lai vô địa đáo Giang Đông.
Kinh doanh ngũ tải thành hà sự?
Tiêu đắc khu khu táng Lỗ công.
Dịch:
Nom nước trăm hai (2) nổi bụng hồng,
Đem đoàn tử đệ đến Quan Trung
Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh, (3)
Tuyết rã Hồng Môn đấu ngọc không (4
Thua chạy giời xui đường Trạch Tả (5)
Quay về đất lấp nẻo Giang Đông (6)
Năm năm lăn lộn hoài công cốc
Còn được vùi trong mả Lỗ công (7) .
* Nguyên văn: Hạng vương từ ký.
Đề xong, ruổi ngựa trở về nhà trọ. Rượu say nằm ngủ, ông Hồ
chiêm bao thấy một người đến nói với mình rằng:
- Tôi vâng chỉ của đức vua tôi, mời ngài đến chơi nói chuyện.
Hồ vội vàng sửa sang quần áo. Người ấy đưa ông đi về mé tả, đến
một nơi cung điện nguy nga, quan hầu đứng sắp hàng răm rắp,
Hạng vương đã ngồi chờ sẵn, bên cạnh có cái giường lưu ly, mời
ông lên ngồi. Rồi Hạng vương hỏi rằng:
- Bài thơ ông đề lúc ban ngày, sao mà mỉa mai ta dữ thế! ừ thì hai
câu: "Thua chạy giời xui đường Trạch Tả, Quay về đất lấp nẻo
Giang Đông" kể cũng là đúng, nhưng đến hai câu "Năm năm lăn lộn
hoài công cốc, Còn được vùi trong mả Lỗ công", há chẳng phải là
chê bai quá lời ư? Này như Hán làm nên vạn thặng (8) ta cũng làm
nên vạn thặng. Ta không diệt được Hán, Hán lại có thể phong tước
cho ta được ư? Đến ngay Điền Hoành (9) là một gã trẻ con, còn
không tham tước của Hán, và hổ thẹn tự sát mà chết; huống ta
đường đường một vị bá vương ở nước Sở, lại tự cam nhận lễ Lỗ
công hay sao? Kẻ kia làm việc ấy, chỉ là đem quàng cho ta một cái
tước vị hão, để đền bù lại sự hổ thẹn khi ở Hán Trung (10) thôi đó.
Ta lại xin nói để ông rõ: Ngày nhà Tần sổ mất con hươu (11) , người
ta nổi dậy nhao nhao, tranh nhau bắt lấy. Ta bấy giờ vì ghét người
Tần mà nổi quân đánh Tần, tháo răng bừa làm giáo, thổi cơm chiêm
làm lương, tôi đòi đều là quân, hào kiệt đều là tướng, phá xứ Ngô
như hủy tổ kiến, lấy đất Hoài như đốt lông hồng, một trận đánh mà
quân Chương Hàm (12) phải tan, hai trận đánh mà miếu Tổ Long
(13) phải sụp. Đức nghĩa ban ra, nhiều nước được dựng lại, oai lệnh
truyền đi, bao kẻ thuận làm tôi. Đứng đầu Chư hầu là quân nước
Sở, làm chúa Tam Tần là tướng xứ Sở. Thiên hạ tước Sở có thể
ngồi mà sai khiến được. Nhưng rồi Sở phải chết vì Hán, há chẳng
phải là bởi trời ư? Vậy thì khi trời định giúp Hán, dù kẻ thổi kèn, dệt
chiếu (14) cũng đủ để thành công; khi trời định diệt Sở, dù người cất
vạc, nhổ núi (15) cũng không thể nói giỏi. Phương chi Chung Ly
mạnh mẽ, chẳng kém Hoài Âm (16) á Phụ (17) khôn ngoan, thực
hơn Nhụ Tử (18) . Nếu ta nghe lời không cố chấp, nhân thua mà
tính toán, thì ruổi Ô truy bốn vó mỏi chồn, há không đủ cày lật cung
đình Phong Bái, thu Bành Thành (19) những quân tản mác, há
không đủ đào tung miếu xã Viêm Lưu. Nhưng chỉ vì thương lũ sinh
linh, nên mới đem tấm thân tám thước đường đường, ném vào tay
lũ Vương ế (20) . Vậy sự hưng vong của Hán, Sở, chỉ là do ở sự
may rủi của trời mà thôi, há nên lấy thành bại mà so bì ư? Nhưng
đời những kẻ thích phẩm bình nhân vật, có kẻ bảo không phải giời
làm mất, có kẻ bảo giời có dính dáng gì. Thi nhân mặc khách
thường thường đem chuyện ta diễn vào trong thơ. Có câu thì:
Cái thế anh hùng sức nhổ núi,
Sở ca bốn mặt lệ tràn lan, (21)
Có câu thì:
Vua chẳng ra vua, tôi chẳng tôi,
Bên sông lập miếu cũng hoài thôi. (22)
Ngày chồng tháng chất, có đến hàng nghìn bài chứ không phải ít.
Nhưng chỉ có hai câu của Đỗ Mục: (23)
Giang đông tử đệ nhiều tay giỏi,
Cuốn đất quay về chửa biết đâu.
Lời thơ ủy khúc trung hậu, hợp cách luật của nhà thơ, đọc lên ta còn
vừa lòng đôi chút. Ngoài ra thì hầu toàn những lời phụ bạc, ta vẫn
lấy làm bất bình lắm, nay tiện dịp ta nói để cho ông rõ.
Ông Hồ cười mà rằng:
- Lẽ trời việc người, cũng là đầu cuối lẫn cho nhau. Bảo mệnh ở trời,
(24) Thương Trụ vì thế mà mất nước; bảo trời sinh đức, Tân Mãng
vì thế mà bỏ mình. (25) Nay nhà vua bỏ người mà đi bàn lẽ giời, vì
thế đã đến táng bại vẫn không tỉnh ngộ. Tôi bữa nay may mắn, được
nhà vua vời đến tiếp kiến, muốn xin được nói thẳng không giấu giếm
gì, nhà vua nghĩ thế nào?
Hạng vương nói:
- Vâng vâng, ông cứ nói.
Ông Hồ nói:
- Phàm xoay cái thế thiên hạ, ở trí chứ không phải ở sức; thu tấm
lòng thiên hạ, ở nhân chứ không phải ở bạo. Nhà vua thì chỉ lấy quát
thét làm oai, lấy cương cường làm đức. Chém Tống Nghĩa là một
tướng mạnh, (26) vô quân đến đâu! Giết Tử Anh là người đã hàng,
(27) bất võ quá lắm! Hàn Sinh vô tội mà bị luộc, (28) hình pháp trái
thường; A Phòng vô cố mà bị thiêu (29) , hung uy quá tệ. Cứ những
việc của nhà vua làm thì được lòng người chăng? hay mất lòng
người chăng?
Hạng vương nói:
- Không phải như thế. Này như cái việc Hàm Đan, lấy một nước
Triệu mới dựng, chống với nước Tần sói hùm, thành bại chỉ ở trong
một hơi thở, còn mất chỉ ở trong chớp mắt. Vậy mà Nghĩa lần khân
sợ sệt, chờ khi giặc mỏi lười, dùng dằng trùng trình, cản đường
quân tiến tới. Nếu mà kế trong trướng không thi hành được, quân
qua sông lại lữa lần thêm, thì dân chúng ở trong thành Triệu, sẽ lại
có cái thảm họa hơn là ở Trường Bình (30) thủa trước. Vậy thì ta
giết một Tống Nghĩa, mà cứu sống được tính mệnh cho trăm vạn
sinh linh, có gì là quá! Vua các nước đều là chư hầu, đều có chúng
dân, có xã tắc, tước thì của thiên vương phong cho, đất thì của thiên
vương ban cho. Vậy mà Tần lợi dụng đất cát, ngông cuồng giáp
binh, mổ Hàn thịt Triệu, hiếp Ngụy hại Yên, nam thì lừa Sở rồi bắt
mà giữ lại, đông thì dối Tề để hãm cho chết đói. Nếu không lật đổ
ngôi Tần và tru diệt họ Tần thì cái hờn cắn nuốt các nước, không
biết ngày nào tiêu tan được. Cho nên ta giết một Tử Anh để trả mối
thù diệt vong cho sáu nước, có gì là tệ. Ôm bụng trung lương là tiết
lớn của kẻ làm tôi. Hàn Sinh thì không thế, khoe mẽ hợm mình,
vong ân bội nghĩa, múa lưỡi để chỉ nghị quân thần, khua môi để
buông lời sàm báng. Vì vậy ta đem làm thịt, để những kẻ bất trung
biết mà răn sợ. Giữ thói tiết kiệm là đức tốt của người làm vua, Thủy
Hoàng thì không thế, xây cung ở bên sông, mở đường ở ven núi,
đắp nền cho cao bằng những hờn oán của dân, chứa kho cho đầy
bằng những máu mỡ của dân. Vì vậy ta đem đốt đi để những vua
đời sau biết nên dè sẻn. Nếu lại buộc tội về những điều ấy thì ta
trộm lấy làm không phục.
Ông Hồ nói:
- Thế thì sáu kinh trong lửa, đốt sách Thánh nhân, thước kiếm trên
sông, giết vua Nghĩa đế, những việc ấy chi mà nhẫn tâm như vậy!
Sao bằng người Hán: sợ lỗi phận vua tôi thì nghe lời Đổng công làm
việc nhân nghĩa, khiến nền nếp đế vương hầu rối mà lại sáng; sợ
thất truyền đạo học thì về đất Khúc Phụ, bày lễ thái lao, khiến dòng
nguồn thi thư hầu đứt mà lại nối. Cho nên người ta có câu nói rằng:
"Hán được thiên hạ, không ở cất dùng Tiêu, Trương, mà ở việc để
trở (31) của ba quân, gợi lòng trung phẫn các hào kiệt; Hán giữ thiên
hạ không ở quy mô rộng lớn mà ở việc thân đến tế ở Khúc Phụ (32)
, mở nền nương tựa cho đời sau". Nhà vua thì so ví làm sao được
với Hán vương.
Hạng vương nghẹn lời không biết nói ra sao, sắc mặt tái như tro
nguội. Bên cạnh có một vị lão thần họ Phạm, tiến lên nói rằng:
- Tôi nghe, làm người ta không ngoài trời đất để mà sống, làm chính
trị không ngoài cương thường để dựng nước. Bầy tôi của Đại vương
đây có người tên là Cữu (33) tiết cứng như tùng, lòng bền tựa đá, sa
cơ không chịu sống nhục, liều mình để được thác mà vinh; nếu
không phải nhà vua biết cách chống ngự thì sao có sự tử trung ấy!
Truyện (34) có nói rằng: "Vua khiến bề tôi lấy lễ, bề tôi thờ vua lấy
trung"; ở Đại vương đây, chính là đã đúng hợp với câu ấy. Chứ như
kẻ kia, sai Ung Sỉ giữ đất Phong thì Ung Sỉ đầu hàng, (35) sai Trần
Hy (36) coi nước Triệu thì Trần Hy làm phản; đạo cương thường hỏi
ai là hơn? Hậu cung của Đại vương có bà họ Ngu, mệnh nhẹ lá thu,
hồn theo bóng kiếm, gửi lòng thơm ở ngọn cỏ tịch mịch, chôn hờn
oán ở cánh đồng hoang vu (37) , nếu không phải nhà vua biết lẽ cư
xử thì sao có sự tận tiết ấy! Kinh Thi có câu rằng: "Dạy vợ mình
trước, sẽ trị nhà nước"; ở Đại vương đây chính là đã xứng đáng với
câu ấy. Chứ như kẻ kia, Lã Trĩ ngông ngạo mà làm việc dâm tà (38)
, Thích Cơ được yêu, rồi đầy thân con lợn (39) ; lẽ cương thường
hỏi bên nào hơn? Huống chi như trái lẽ trời mà bảo sẻ chén canh,
yêu con bé mà coi thường gốc nước; (40) luân thường cha con hỏi
rằng để đâu? Những người nghị luận ở đời sau, chẳng so nặng nhẹ,
chẳng xét phải trái, lòng không suy nghĩ, miệng chỉ quàng xiên, đối
Hán thì khen ngợi chẳng tiếc lời, đối Sở thì chê bai không tiếc sức,
khiến đấĐại vương của chúng tôi trong cõi u minh cứ phải chịu
những lời mỉa mai cay độc. Vậy mong những điều nhơ tiếng xấu,
phiền ông gột rửa giùm cho, cũng là một việc thú trong cuộc gặp gỡ
của chúng ta.
Ông Hồ thấy lời nói cũng hơi có lý, gật đầu hai ba lần, rồi ngoảnh
bảo những người theo:
- Các ngươi ghi nhớ lấy.
Rồi đó canh tàn trà cạn, ông đứng dậy từ giã xin về; Hạng vương
đưa chân ra đến cửa thì phương đông đã dần sáng rạng. Ông xốc
áo vùng dậy, té ra là một giấc chiêm bao, bèn mua rượu và nem bày
một lễ cúng ở đầu thuyền trước khi rời khỏi đấy.
Lời bình:
Than ôi, so Sở với Hán thì Hán hơn, sánh Hán với bậc vương đạo,
Hán còn xa lắm. Sao vậy? Hồng Môn nổi giận, Thái công tha về,
những việc ấy, Sở không phải là bất nhân; nhưng nhân nông mà ác
sâu. Làm cỏ Dĩnh Xuyên, (41) giết hại công thần, những việc ấy,
Hán không phải là không có lỗi, nhưng lỗi ít, tốt nhiều. Sở đã đành
trái với nhân nghĩa, nhưng Hán cũng chỉ là giống với nhân nghĩa. Họ
Hạng nước Sở không được là hạng bá giả mà vua Cao nhà Hán
cũng là tẹp nhẹp. Kẻ trị thiên hạ nên tiến lên đến đạo thuần vương,
còn Hán Sở nhân với bất nhân, hãy gác ra không cần bàn đến.
Chú thích
(1) Hồ Tông Thốc: người huyện Thổ Thành, nay là xã Thọ Thành,
huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; trú quán tại xã Vô Ngại, huyện
Đường Hào nay thuộc tỉnh Hải Dương. Đời Trần Nghệ Tông (13701372) đi sứ nhà Nguyên, làm quan đến chức Hàn lâm học sĩ Thẩm
hình viện sự, có tác phẩm Việt sử cương mục và Việt Nam thế chí,
Thảo nhàn hiệu tần thi tập, nhưng hiện chỉ còn một bài thơ.
(2) Non nước trăm hai: nhà Tần đóng đô ở Quan Trung, địa thế hiểm
yếu, hai người ở trong có thể chống với 100 người ở ngoài.
(3) Nói việc Hạng Vũ đốt cung A Phòng của nhà Tần.
Hàm Cốc: cửa quan hiểm yếu của nhà Tầ
(4) Tiệc ở Hồng Môn, Phạm Tăng định giết Bái Công nhưng Hạng
Vũ không nghe. Bái Công thoát về được, Tăng tức giận ném vỡ tan
cái đấu ngọc Trương Lương (Hán) biếu. ý câu thơ: đấu ngọc vỡ vụn
như tuyết, không còn gì nữa.
(5) Hạng Vũ bị vây ở Cái Hạ, đêm phá vòng vây chạy được đến Âm
Lăng, hỏi đường, bị một ông lão nông ghét Sở lừa chỉ đi về phía tả;
Vũ nghe theo bị mắc cái đầm lớn không còn đường chạy nữa. Vũ
than là "Trời định làm mất ta".
(6) Hạng Vũ chạy đến Ô Giang người lái đò khuyên qua sông sang
Giang Đông rồi sẽ tính kế quay về, nhưng Vũ không nghe, tự tử.
(7) Lỗ Công: tước Hạng Vũ được Hoài vương phong từ trước. Khi
Vũ thua chết, Hán Cao Tổ lấy lễ công mà chôn cất.
(8) Vạn Thặng: ngôi thiên từ có muôn cỗ xe.
(9) Điền Hoành: họ Điền vốn là họ của Tề Vương, người nước Tần.
Khi nước Tề bị diệt, Hoành tự lập làm Tề vương. Khi Hán diệt Hạng
Vũ, Hoành đem thuộc hạ chạy ra hải đảo. Hán Cao Tổ sai sứ ra mời
hứa phong tước vương, chí ít cũng là tước hầu; còn nếu không theo
sẽ đánh. Hoành định theo, nhưng khi gần về đến Lạc Dương lại đổi
ý, tự sát. Thuộc hạ đều chết theo.
(10) Hạng Vũ từng phong cho Bái công tước vương ở Ba Thục và
Hán Trung.
(11) Con hươu: ví với thiên hạ. Nhà Tần sổ mất con hươu: nhà Tần
bị mất thiên hạ.
(12) Chương Hàm: tướng nhà Tần. Hạng Vũ và Hạng Lương đánh
quân Chương Hàm ở Đông A hạ, đuổi đến Bộc Dương thì hoàn toàn
phá tan.
(13) Tổ Long: miếu thờ Tần Thủy Hoàng. Sứ giả Tần đêm đi qua
Hoa Âm, có người ngăn lại bảo "Năm nay Tổ Long chết". Tổ Long
chỉ Tần Thủy Hoàng, vì Long (rồng) là hình tượng của vua (Hoàng) ;
Tổ là người mở đầu, ứng với chữ Thủy.
(14) Kẻ thổi kèn dệt chiếu: chỉ Giáng hầu Chu Bộ vốn người đất
Quyển, sau dời sang đất Bái, thuở hàn vi thường phải dệt rèm trúc,
thổi kèn đám ma kiếm sống.
(15) Người cất vạc nhổ núi: chỉ Hạng Vũ. Hạng Lương khiến Hạng
Vũ chiêu tập bọn Vu Anh ở Đồ Sơn. Anh nói: "Trong miếu Vũ vương
có 3 chiếc vạc đá, nếu xô đổ rồi nhấc bổng lên được thì ta sẽ hàng.”
Vũ bèn xô đổ rồi lại dựng lên, sau đó cho một tay vào trong vạc nhấc
lên đi vòng trước cửa miếu ba lần, bọn Vu Anh đều bái phục. Chữ
nhổ núi (bạt sơn) , xuất phát từ bài ca tuyệt mệnh của Hạng Vũ: Lực
bạt sơn hề khí cái thế (sức có thể nhổ núi, khí trùm trời đất) .
(16) Hoài Âm tức Hoài Âm hầu, tước phong của Hàn Tín, tướng giỏi
của Lưu Bang. Chung Ly: có lẽ là tướng của Hạng Vũ, chưa rõ điển
tích.
(17) á Phụ: tức Phạm Tăng, mưu sĩ giỏi của Hạng Vũ.
(18) Nhụ Tử: có lẽ chỉ Trần Bình, người phụ tá có nhiều mưu lược
của Hán Cao Tổ.
(19) Phong Bái, Bành Thành: Phong Bái: chỉ quê hương Hán Cao
Tổ, vì ông người ấp Phong, huyện Bái; Bành Thành: đất của Tần.
Hạng Vũ diệt Tần, đóng đô ở đấy.
(20) Vương ế: Hạng Vũ bị thua ở Ô Giang, Vũ ngoái nhìn người kỵ
binh Hán là Lã Mã Đồng hỏi: "Anh có phải là bạn cũ của ta không?”
Mã Đồng nhận diện rồi chỉ cho Vương ế: "Đây là Hạng vương". Vũ
lại hỏi: "Ta nghe nói Hán vương treo giá đầu ta ngàn vàng và tước
vạn hộ. Ta cho ngươi đấy!” Nói rồi tự vẫn. Vương ế liền cắt đầu
Hạng Vũ nộp cho vua.
(21) Sở ca bốn mặt lệ tràn lan: Hạng Vũ đến Cai Hạ, binh thiếu,
lương hết, không đánh thắng được quân Hán lại bị vây bốn mặt.
Trương Lương dạy quân Hán hát tiếng nước Sở đêm đến cất tiếng
ca. Hạng Vũ nghe thấy bốn bề đều hát những bài ca nước Sở, thất
kinh nói: "Hán đã lấy được Sở rồi sao? Sao người Sở đông như
vậy?” Rồi đang đêm dậy uống rượu trong trướng, khóc ròng, thuộc
hạ đều khóc, không ai ngẩng lên được, quân tướng đều tan rã.
(22) Hai câu này trích trong bài thơ của Vương An Thạch, Tể tướng
thời Tống Thần Tông.
(23) Đỗ Mục (803-853) , một nhà thơ có tên tuổi thời Văn Đường;
hai câu này trích trong bài Đề Ô Giang đình.
(24) Mệnh ở trời: vua Trụ nhà Thương bạo ngược, trung thần
khuyên can thì nói "đã có mệnh trời".
(25) Tân Mãng: Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, đổi quốc hiệu là
Tân nên gọi là Tân Mãng. Hán Quang Vũ khởi binh đánh, Mãng nói:
"Trời đã sinh đức ở ta, quân Hán làm gì được ta?”
(26) Chém Tống Nghĩa... : Sở Hoài Vương phong Tống nghĩa làm
Thượng tướng, hiệu Khanh tử Quán quân, sai đem quân đánh Tần
cứu Triệu. Tống Nghĩa trùng trình không tiến quân, Hạng Vũ liền vào
trướng chém chết.
(27) Hạng Vũ đem quân đánh Hàm Dương, Tần vương là Tử Anh
đã hàng, vẫn bị giết.
(28) Hàn Sinh bị luộc: Hàn Sinh khuyên Hạng Vũ nên đóng đô ở
Quan Trung vì thế đất hiểm trở, phì nhiêu, có thể là nơi dựng nghiệp
bá được. Vũ thấy cung thất nhà Tần đã bị đốt sạch, có ý muốn trở
về Đông liền bảo: "Phú quý mà không trở về cố hương thì như mặc
áo gấm đi đêm còn ai biết đến nữa". Hàn Sinh tức lui về nói: "Thế
gian nói "người Sở là con khỉ đội mũ" quả như vậy". Chuyện đến tai
Vũ, biết Hàn Sinh nói mình, Vũ giận sai giết chết bỏ luộc.
(29) A Phòng... bị thiêu: A Phòng là một dãy cung điện rất lớn liên
tiếp nhau đến 300 dặm, cứ 5 bộ có một lầu, 10 bộ có một gác, lại
dẫn nước hai con sông lớn vào đến chân tường bao cung điện. Sau
bị Hạng Vũ đốt, hiện còn di chỉ ở huyện Tân An, tỉnh Thiểm Tây.
(30) Cái họa Trường Bình: Liêm Pha đóng quân ở Trường Bình, cố
thủ không ra đánh. Triệu vương cho Triệu Quát đến thay. Quát đổi
luật lệnh, dùng người dễ dãi, mở cửa thành đánh Tần, trúng kế kỳ
binh của Vũ Anh Quân bị đại bại. Hơn 40 vạn quân Triệu đều hàng
Tần, bị Vũ Anh Quân lừa giết chết hết.
(31) Hạng Vũ giết vua Nghĩa đế nước Sở, Hán vương theo mưu kế
của Đổng công cho ba quân để tang, gợi lòng trung nghĩa của họ và
kích động hào kiệt trong thiên hạ.
(32) Khúc Phụ: quê hương Khổng Tử.
(33) Cữu: Tào Cữu, Đại Tư mã nước Sở. Hạng vương sai Cữu giữ
thành Cao, dặn cố thủ không được đánh. Quân Hán khiêu chiến
mấy lần không được liền dùng kế nhục mạ Cữu suốt mấy ngày. Cữu
nổi giận đem quân vượt sông Tỵ thủy mà đánh. Quân lính mới sang
được nửa sông thì bị đánh bại, vật báu của nước Sở đều bị lấy hết;
Cữu và Tư Mã Hân đều tự tử chết.
(34) Truyện: chỉ sách Luận ngữ. Câu này trích trong thiên Tử Hãn.
(35) Ung Sỉ: trước theo Hán Cao Tổ được sai giữ đất Phong. Khi
Phong bị Ngụy chiếm, Sỉ hàng Ngụy, Hán Cao Tổ không có đường
về phải dời sang đất Bái.
(36) Trần Hy: Hán Cao Tổ phong Trần Hy làm Tướng quốc coi quân
biên. Sau Trần Hy cùng Vương Hoàng làm phản, tự lập làm vương,
cướp phá Triệu, Đại.
(37) Hạng Vũ cùng đường ở Cai Hạ, vợ là Ngu Cơ tự tử để chồng
khỏi vướng víu bịn rịn. Tục truyền trên mộ nàng mọc lên một thứ cỏ
thơm gọi là cỏ "Ngu mỹ nhân".
(38) Lã Trĩ là hoàng hậu của Hán Cao Tổ (cũng gọi là Lã Hậu) , khi
còn ở trong quân Hạng vương làm con tin cùng Thẩm Tự Kỳ vốn đã
thích nhau, sau Lã Hậu...
Nhà văn Việt Nam, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay
thuộc Thanh Miện, Hải Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm
ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã ra làm quan. Sau vì bất
mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó "trải
mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành". Chưa rõ Nguyễn
Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống đồng thời với thầy học là
Nguyễn Bỉnh Khiêm, và bạn học là Phùng Khắc Khoan, tức là vào
khoảng thế kỷ XVI và để lại tập truyện chữ Hán nổi tiếng viết trong
thời gian ở ẩn, Tryền kỳ mạn lục (in 1768, A. 176/1-2) . Truyện được
Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời
dịch ra chữ nôm. Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng tản
văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình
của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả. Hầu
hết các truyện xảy ra ở đời Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc đời Lê sơ từ
Nghệ An trở ra Bắc. Lấy tên sách là Truyền kỳ mạn lục (Sao chép
tản mạn những truyện lạ) , hình như tác giả muốn thể hiện thái độ
khiêm tốn của một người chỉ ghi chép truyện cũ. Nhưng căn cứ vào
tính chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là
một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân
lục... mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Đó
là một tập truyện phóng tác, đánh dấu bước phát triển quan trọng
của thể loại tự sự hình tượng trong văn học chữ Hán. Và nguyên
nhân chính của sự xuất hiện một tác phẩm có ý nghĩa thể loại này là
nhu cầu phản ánh của văn học. Trong thế kỷ XVI, tình hình xã hội
không còn ổn định như ở thế kỷ XV; mâu thuẫn giai cấp trở nên gay
gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa
mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay, chiến tranh phong kiến ác liệt
và kéo dài, đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt, cuộc sống
không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực. Muốn phản ánh thực tế
phong phú, đa dạng ấy, muốn lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc
sống đầy biến động ấy thì không thể chỉ dừng lại ở chỗ ghi chép sự
tích đời trước. Nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại
văn học. Và Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức
lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn
từ... tái tạo thành những thiên truyện mới. Truyền kỳ mạn lục vì vậy,
tuy có vẻ là những truyện cũ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực
thế kỷ XVI. Trên thực tế thì đằng sau thái độ có phần dè dặt khiêm
tốn, Nguyễn Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, qua đó ông bộc lộ
tâm tư, thể hiện hoài bão; ông đã phát biểu nhận thức, bày tỏ quan
điểm của mình về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong
khi chế độ phong kiến đang suy thoái.
Trong Truyền kỳ mạn lục, có truyện vạch trần chế độ chính trị đen
tối, hủ bại, đả kích hôn quân bạo chúa, tham quan lại nhũng, đồi
phong bại tục, có truyện nói đến quyền sống của con người như tình
yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, có truyện thể
hiện đời sống và lý tưởng của sĩ phu ẩn dật... Nguyễn Dữ đã phản
ánh hiện thực mục nát của chế độ phong kiến một cách có ý thức.
Toàn bộ tác phẩm thấm sâu tinh thần và mầu sắc của cuộc sống,
phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn
đề của xã hội, con người được đề cập tới. Bất mãn với thời cuộc và
bất lực trước hiện trạng, Nguyễn Dữ ẩn dật và đã thể hiện quan
niệm sống của kẻ sĩ lánh đục về trong qua Câu chuyện đối đáp của
người iều phu trong núi Nưa. ở ẩn mà nhà văn vẫn quan tâm đến
thế sự, vẫn không quên đời, vẫn nuôi hy vọng ở sự phục hồi của
chế độ phong kiến. Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là tư tưởng
Nho gia. Ông phơi bày những cái xấu xa của xã hội là để cổ vũ
thuần phong mỹ tục xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong kiến,
phủ định triều đại mục nát đương thời để khẳng định một vương
triều lý tưởng trong tương lai, lên án bọn "bá giả" để đề cao đạo
"thuần vương", phê phán bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh
quân hiền thần, trừng phạt bọn người gian ác, xiểm nịnh, dâm tà, để
biểu dương những gương tiết nghĩa, nhân hậu, thủy chung. Tuy
nhiên Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ thể hiện tư tưởng nhà nho,
mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của
ý thức hệ phong kiến. Nguyễn Dữ đã có phần bảo lưu những tư
tưởng phi Nho giáo khi phóng tác, truyện dân gian, trong đó có tư
tưởng Phật giáo, Đạo giáo và chủ yếu là tư tưởng nhân dân.
Nguyễn Dữ đã viết truyền kỳ để ít nhiều có thể thoát ra khỏi khuôn
khổ của tư tưởng chính thống đặng thể hiện một cách sinh động
hiện thực cuộc sống với nhiều yếu tố hoang đường, kỳ lạ. Ông
mượn thuyết pháp của Phật, Đạo, v. v. để lý giải một cách rộng rãi
những vấn đề đặt ra trong cuộc sống với những quan niệm nhân
quả, báo ứng, nghiệp chướng, luân hồi; ông cũng đã chịu ảnh
hưởng của tư tưởng nhân dân khi miêu tả cảnh cùng cực, đói khổ,
khi thể hiện đạo đức, nguyện vọng của nhân dân, khi làm nổi bật sự
đối kháng giai cấp trong xã hội. Cũng chính vì ít nhiều không bị gò
bó trong khuôn khổ khắt khe của hệ ý thức phong kiến và muốn
dành cho tư tưởng và tình cảm của mình một phạm vi rộng rãi, ông
hay viết về tình yêu nam nữ. Có những truyện ca ngợi tình yêu lành
mạnh, chung thủy sắt son, thể hiện nhu cầu tình cảm của các tầng
lớp bình dân. Có những truyện yêu đương bất chính, tuy vượt ra
ngoài khuôn khổ lễ giáo nhưng lại phản ánh lối sống đồi bại của nho
sĩ trụy lạc, lái buôn hãnh tiến. Nguyễn Dữ cũng rất táo bạo và phóng
túng khi viết về những mối tình si mê, đắm đuối, sắc dục, thể hiện
sự nhượng bộ của tư tưởng nhà nho trước lối sống thị dân ngày
càng phổ biến ở một số đô thị đương thời. Tuy vậy, quan điểm chủ
đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ lễ giáo, nên ý nghĩa tiến bộ toát
ra từ hình tượng nhân vật thường mâu thuẫn với lý lẽ bảo thủ trong
lời bình. Mâu thuẫn này phản ánh mâu thuẫn trong tư tưởng, tình
cảm tác giả, phản ánh sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong
tầng lớp nho sĩ trước nhu cầu và lối sống mới của xã hội. Truyền kỳ
mạn lục có giá trị hiện thực vì nó phơi bày những tệ lậu của chế độ
phong kiến và có giá trị nhân đạo vì nó đề cao phẩm giá con người,
tỏ niềm thông cảm với nỗi khổ đau và niềm mơ ước của nhân dân.
Truyền kỳ mạn lục còn là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật,
đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật. Nó vượt xa
những truyện ký lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống
riêng của nhân vật, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít đi
sâu vào nội tâm nhân vật. Tác phẩm kết hợp một cách nhuần
nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa
ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền
ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh
động. Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là "thiên cổ
kỳ bút", là "áng văn hay của bậc đại gia", tiêu biểu cho những thành
tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của
sáng tác dân gian.
BÙI DUY TÂN
Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính
Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) , được trao chức Thừa
chánh sứ, sau khi mất được tặng phong Thượng thư. Lúc nhỏ
Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy
văn chương nối nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, Nguyễn Dữ thi
Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh
Tuyền nhưng mới được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng
mẹ già. Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội, ông
miệt mài "ghi chép" để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành
tác phẩm "thiên cổ kỳ bút" Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Dữ sinh và
mất năm nào chưa rõ, nhưng căn cứ vào tác phẩm cùng bài Tựa
Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định thứ nhất
(1547) và những ghi chép của Lê Quý Đôn trong mục Tài phẩm sách
Kiến văn tiểu lục có thể biết ông là người cùng thời với Nguyễn Bỉnh
Khiêm, có thể lớn tuổi hơn Trạng Trình chút ít. Giữa Nguyễn Dữ và
Nguyễn Bỉnh Khiêm tin chắc có những ảnh hưởng qua lại về tư
tưởng, học thuật... nhưng e rằng Nguyễn Dữ không thể là học trò
của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Vũ Phương Đề đã ghi. Đối với nhà
Mạc, thái độ Nguyễn Dữ dứt khoát hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông
không làm quan với nhà Mạc mà chọn con đường ở ẩn và ông đã
sống cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục
được hoàn thành ngay từ những năm đầu của thời kỳ này, ước đoán
vào khoảng giữa hai thập kỷ 20-30 của thế kỷ XVI.
Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục là tác
phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ. Sách gồm 20 truyện, chia làm 4
quyển, được viết theo thể loại truyền kỳ. Cốt truyện chủ yếu lấy từ
những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất
phát từ truyền uyết về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ
Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên và đền thờ
Văn Dĩ Thành ở làng Gối, Hà Nội) . Truyện được viết bằng văn xuôi
Hán có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn, cuối mỗi truyện (trừ
truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình thể hiện rõ chính kiến
của tác giả. Hầu hết các truyện đều lấy bối cảnh ở các thời Lý-Trần,
Hồ, thuộc Minh, Lê sơ và trên địa bàn từ Nghệ An trở ra Bắc. Thông
qua các nhân vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ..., tác phẩm
muốn gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn
kỷ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm
nịnh hót đầy triều đình; những kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ
vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí đến chiếm đoạt vợ người,
bức hại chồng người. Trong một xã hội rối ren như thế, nhiều tệ nạn
thế tất sẽ nảy sinh. Cờ bạc, trộm cắp, tật dịch, ma quỷ hoành hành,
đến Hộ pháp, Long thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi, học trò,
thương nhân, nhiều kẻ đắm chìm trong sắc dục. Kết quả là người
dân lương thiện, đặc biệt là phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ. Nguyễn
Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này. Dưới ngòi bút của
ông họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu
lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi thảm. Đến cả loại
nhân vật "phản diện" như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký) ,
nàng Nhị Khanh (Mộc miên phụ truyện) , các hồn hoa (Tây viên kỳ
ngộ ký) và "yêu quái ở Xương Giang" cũng đều vì số phận đưa đẩy,
đều vì "nghiệp oan" mà đến nỗi trở thành ma quỷ. Họ đáng bị trách
phạt nhưng cũng đáng thương.
Dường như Nguyễn Dữ không tìm được lối thoát trên con đường
hành đạo, ông quay về cuộc sống ẩn dật, đôi lúc thả hồn mơ màng
cõi tiên, song cơ bản ông vẫn gắn bó với cõi đời. Ông trân trọng và
ca ngợi những nhân cách thanh cao, cứng cỏi, những anh hùng cứu
nước, giúp dân không kể họ ở địa vị cao hay thấp.
Truyền kỳ mạn lục ngay từ khi mới hoàn thành đã được đón nhận.
Hà Thiện Hán người cùng thời viết lời Tựa, Nguyễn Thế Nghi, theo
Vũ Phương Đề cũng là người cùng thời, dịch ra văn nôm. Về sau
nhiều học giả tên tuổi Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú đều
ghi chép về Nguyễn Dữ và định giá tác phẩm của ông. Nhìn chung
các học giả thời Trung đại khẳng định giá trị nhân đạo và ý nghĩa
giáo dục của tác phẩm. Các nhà nghiên cứu hiện đại phát hiện thêm
giá trị hiện thực đồng thời khai thác tinh thần "táo bạo, phóng túng"
của Nguyễn Dữ khi ông miêu tả những cuộc tình si mê đắm đuối
đậm màu sắc dục. Hành vi ấy tuy trái lễ, trái đạo trung dung nhưng
lại đem đến chút hạnh phúc trần thế có thực cho những số phận oan
nghiệt. Về mặt thể loại mà xét thì Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm
đỉnh cao của truyện truyền kỳ Việt Nam. Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng
của Cù Hựu nhưng Truyền kỳ mạn lục vẫn là "áng văn hay của bậc
đại gia", là sáng tạo riêng của Nguyễn Dữ cũng như của thể loại
truyện truyền kỳ Việt Nam.
TRẦN THỊ BĂNG THANH
Lời tựa (1)
Tập lục này là trước tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng
Châu. Ông là con trưởng vị tiến sĩ triều trước Nguyễn Tường Phiêu
(2) . Lúc nhỏ rất chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí
ở việc lấy văn chương truyền nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến,
nhiều lần thi Hội đỗ trúng trường, từng được bổ làm Tri huyện Thanh
Tuyền (3) . Được một năm ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo
hiếu. Mấy năm dư không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông
viết ra tập lục này, để ngụ ý. Xem văn từ thì không vượt ra ngoài
phên giậu của Tông Cát (4) , nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy
củ khuôn phép, đối với việc giáo hóa ở đời, há có phải bổ khuyết
nhỏ đâu!
Vĩnh Định năm đầu (1547) ,
tháng Bảy, ngày tốt.
Đại An Hà Thiện Hán kính ghi
Kẻ hậu học là Tùng Châu Nguyễn Lập Phu biên.
(1) Lời Tựa này được chép trong Cựu biên Truyền kỳ mạn lục. Bản
này hiện chưa có trong các thư viện ở Hà Nội. Ở đây chúng tôi theo
Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, Đài Loan thư cục in năm
1987. Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú in năm
Cảnh Hưng 35 (1774) lấy lại lời tựa này nhưng không ghi tên Hà
Thiện Hán. Cuối bài ghi thêm "Nay xã trưởng xã Liễu Chàng là
Nguyễn Đình Lân soạn in vào năm Giáp Ngọ (1774) để làm bản gốc
cho nghìn vạn đời và để bán cho thiên hạ xem đọc".
Chú thích
(2) Nguyễn Tường Phiêu: người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân,
nay thuộc tỉnh Hải Dương, đồ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân
năm Hồng Đức 27 (1496) đời Lê Thánh Tông; làm quan đến Thừa
chánh sứ. Sau khi mất được tặng chức Thượng thư, phong phúc
thần.
(3) Thanh Tuyền: tức huyện Bình Xuyên, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
(4) Tông Cát: Cù Tông Cát, tên là Cù Hựu, tác giả Tiễn đăng tân
thoại.
Câu chuyện ở đền Hạng Vương (*)
Quan Thừa chỉ Hồ Tông Thốc (1) là người hay thơ, lại giỏi lối mỉa
mai giễu cợt, khoảng cuối đời Trần, phụng mệnh sang Trung Quốc,
nhân đi qua đền Hạng vương có đề thơ rằng:
Bách nhị sơn hà khởi chiến phong,
Huề tương tử đệ nhập Quan Trung.
Yên tiêu Hàm Cốc châu cung lãnh,
Tuyết tán Hồng Môn ngọc đẩu không.
Nhất bại hữu thiên vong Trạch Tả,
Trùng lai vô địa đáo Giang Đông.
Kinh doanh ngũ tải thành hà sự?
Tiêu đắc khu khu táng Lỗ công.
Dịch:
Nom nước trăm hai (2) nổi bụng hồng,
Đem đoàn tử đệ đến Quan Trung
Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh, (3)
Tuyết rã Hồng Môn đấu ngọc không (4
Thua chạy giời xui đường Trạch Tả (5)
Quay về đất lấp nẻo Giang Đông (6)
Năm năm lăn lộn hoài công cốc
Còn được vùi trong mả Lỗ công (7) .
* Nguyên văn: Hạng vương từ ký.
Đề xong, ruổi ngựa trở về nhà trọ. Rượu say nằm ngủ, ông Hồ
chiêm bao thấy một người đến nói với mình rằng:
- Tôi vâng chỉ của đức vua tôi, mời ngài đến chơi nói chuyện.
Hồ vội vàng sửa sang quần áo. Người ấy đưa ông đi về mé tả, đến
một nơi cung điện nguy nga, quan hầu đứng sắp hàng răm rắp,
Hạng vương đã ngồi chờ sẵn, bên cạnh có cái giường lưu ly, mời
ông lên ngồi. Rồi Hạng vương hỏi rằng:
- Bài thơ ông đề lúc ban ngày, sao mà mỉa mai ta dữ thế! ừ thì hai
câu: "Thua chạy giời xui đường Trạch Tả, Quay về đất lấp nẻo
Giang Đông" kể cũng là đúng, nhưng đến hai câu "Năm năm lăn lộn
hoài công cốc, Còn được vùi trong mả Lỗ công", há chẳng phải là
chê bai quá lời ư? Này như Hán làm nên vạn thặng (8) ta cũng làm
nên vạn thặng. Ta không diệt được Hán, Hán lại có thể phong tước
cho ta được ư? Đến ngay Điền Hoành (9) là một gã trẻ con, còn
không tham tước của Hán, và hổ thẹn tự sát mà chết; huống ta
đường đường một vị bá vương ở nước Sở, lại tự cam nhận lễ Lỗ
công hay sao? Kẻ kia làm việc ấy, chỉ là đem quàng cho ta một cái
tước vị hão, để đền bù lại sự hổ thẹn khi ở Hán Trung (10) thôi đó.
Ta lại xin nói để ông rõ: Ngày nhà Tần sổ mất con hươu (11) , người
ta nổi dậy nhao nhao, tranh nhau bắt lấy. Ta bấy giờ vì ghét người
Tần mà nổi quân đánh Tần, tháo răng bừa làm giáo, thổi cơm chiêm
làm lương, tôi đòi đều là quân, hào kiệt đều là tướng, phá xứ Ngô
như hủy tổ kiến, lấy đất Hoài như đốt lông hồng, một trận đánh mà
quân Chương Hàm (12) phải tan, hai trận đánh mà miếu Tổ Long
(13) phải sụp. Đức nghĩa ban ra, nhiều nước được dựng lại, oai lệnh
truyền đi, bao kẻ thuận làm tôi. Đứng đầu Chư hầu là quân nước
Sở, làm chúa Tam Tần là tướng xứ Sở. Thiên hạ tước Sở có thể
ngồi mà sai khiến được. Nhưng rồi Sở phải chết vì Hán, há chẳng
phải là bởi trời ư? Vậy thì khi trời định giúp Hán, dù kẻ thổi kèn, dệt
chiếu (14) cũng đủ để thành công; khi trời định diệt Sở, dù người cất
vạc, nhổ núi (15) cũng không thể nói giỏi. Phương chi Chung Ly
mạnh mẽ, chẳng kém Hoài Âm (16) á Phụ (17) khôn ngoan, thực
hơn Nhụ Tử (18) . Nếu ta nghe lời không cố chấp, nhân thua mà
tính toán, thì ruổi Ô truy bốn vó mỏi chồn, há không đủ cày lật cung
đình Phong Bái, thu Bành Thành (19) những quân tản mác, há
không đủ đào tung miếu xã Viêm Lưu. Nhưng chỉ vì thương lũ sinh
linh, nên mới đem tấm thân tám thước đường đường, ném vào tay
lũ Vương ế (20) . Vậy sự hưng vong của Hán, Sở, chỉ là do ở sự
may rủi của trời mà thôi, há nên lấy thành bại mà so bì ư? Nhưng
đời những kẻ thích phẩm bình nhân vật, có kẻ bảo không phải giời
làm mất, có kẻ bảo giời có dính dáng gì. Thi nhân mặc khách
thường thường đem chuyện ta diễn vào trong thơ. Có câu thì:
Cái thế anh hùng sức nhổ núi,
Sở ca bốn mặt lệ tràn lan, (21)
Có câu thì:
Vua chẳng ra vua, tôi chẳng tôi,
Bên sông lập miếu cũng hoài thôi. (22)
Ngày chồng tháng chất, có đến hàng nghìn bài chứ không phải ít.
Nhưng chỉ có hai câu của Đỗ Mục: (23)
Giang đông tử đệ nhiều tay giỏi,
Cuốn đất quay về chửa biết đâu.
Lời thơ ủy khúc trung hậu, hợp cách luật của nhà thơ, đọc lên ta còn
vừa lòng đôi chút. Ngoài ra thì hầu toàn những lời phụ bạc, ta vẫn
lấy làm bất bình lắm, nay tiện dịp ta nói để cho ông rõ.
Ông Hồ cười mà rằng:
- Lẽ trời việc người, cũng là đầu cuối lẫn cho nhau. Bảo mệnh ở trời,
(24) Thương Trụ vì thế mà mất nước; bảo trời sinh đức, Tân Mãng
vì thế mà bỏ mình. (25) Nay nhà vua bỏ người mà đi bàn lẽ giời, vì
thế đã đến táng bại vẫn không tỉnh ngộ. Tôi bữa nay may mắn, được
nhà vua vời đến tiếp kiến, muốn xin được nói thẳng không giấu giếm
gì, nhà vua nghĩ thế nào?
Hạng vương nói:
- Vâng vâng, ông cứ nói.
Ông Hồ nói:
- Phàm xoay cái thế thiên hạ, ở trí chứ không phải ở sức; thu tấm
lòng thiên hạ, ở nhân chứ không phải ở bạo. Nhà vua thì chỉ lấy quát
thét làm oai, lấy cương cường làm đức. Chém Tống Nghĩa là một
tướng mạnh, (26) vô quân đến đâu! Giết Tử Anh là người đã hàng,
(27) bất võ quá lắm! Hàn Sinh vô tội mà bị luộc, (28) hình pháp trái
thường; A Phòng vô cố mà bị thiêu (29) , hung uy quá tệ. Cứ những
việc của nhà vua làm thì được lòng người chăng? hay mất lòng
người chăng?
Hạng vương nói:
- Không phải như thế. Này như cái việc Hàm Đan, lấy một nước
Triệu mới dựng, chống với nước Tần sói hùm, thành bại chỉ ở trong
một hơi thở, còn mất chỉ ở trong chớp mắt. Vậy mà Nghĩa lần khân
sợ sệt, chờ khi giặc mỏi lười, dùng dằng trùng trình, cản đường
quân tiến tới. Nếu mà kế trong trướng không thi hành được, quân
qua sông lại lữa lần thêm, thì dân chúng ở trong thành Triệu, sẽ lại
có cái thảm họa hơn là ở Trường Bình (30) thủa trước. Vậy thì ta
giết một Tống Nghĩa, mà cứu sống được tính mệnh cho trăm vạn
sinh linh, có gì là quá! Vua các nước đều là chư hầu, đều có chúng
dân, có xã tắc, tước thì của thiên vương phong cho, đất thì của thiên
vương ban cho. Vậy mà Tần lợi dụng đất cát, ngông cuồng giáp
binh, mổ Hàn thịt Triệu, hiếp Ngụy hại Yên, nam thì lừa Sở rồi bắt
mà giữ lại, đông thì dối Tề để hãm cho chết đói. Nếu không lật đổ
ngôi Tần và tru diệt họ Tần thì cái hờn cắn nuốt các nước, không
biết ngày nào tiêu tan được. Cho nên ta giết một Tử Anh để trả mối
thù diệt vong cho sáu nước, có gì là tệ. Ôm bụng trung lương là tiết
lớn của kẻ làm tôi. Hàn Sinh thì không thế, khoe mẽ hợm mình,
vong ân bội nghĩa, múa lưỡi để chỉ nghị quân thần, khua môi để
buông lời sàm báng. Vì vậy ta đem làm thịt, để những kẻ bất trung
biết mà răn sợ. Giữ thói tiết kiệm là đức tốt của người làm vua, Thủy
Hoàng thì không thế, xây cung ở bên sông, mở đường ở ven núi,
đắp nền cho cao bằng những hờn oán của dân, chứa kho cho đầy
bằng những máu mỡ của dân. Vì vậy ta đem đốt đi để những vua
đời sau biết nên dè sẻn. Nếu lại buộc tội về những điều ấy thì ta
trộm lấy làm không phục.
Ông Hồ nói:
- Thế thì sáu kinh trong lửa, đốt sách Thánh nhân, thước kiếm trên
sông, giết vua Nghĩa đế, những việc ấy chi mà nhẫn tâm như vậy!
Sao bằng người Hán: sợ lỗi phận vua tôi thì nghe lời Đổng công làm
việc nhân nghĩa, khiến nền nếp đế vương hầu rối mà lại sáng; sợ
thất truyền đạo học thì về đất Khúc Phụ, bày lễ thái lao, khiến dòng
nguồn thi thư hầu đứt mà lại nối. Cho nên người ta có câu nói rằng:
"Hán được thiên hạ, không ở cất dùng Tiêu, Trương, mà ở việc để
trở (31) của ba quân, gợi lòng trung phẫn các hào kiệt; Hán giữ thiên
hạ không ở quy mô rộng lớn mà ở việc thân đến tế ở Khúc Phụ (32)
, mở nền nương tựa cho đời sau". Nhà vua thì so ví làm sao được
với Hán vương.
Hạng vương nghẹn lời không biết nói ra sao, sắc mặt tái như tro
nguội. Bên cạnh có một vị lão thần họ Phạm, tiến lên nói rằng:
- Tôi nghe, làm người ta không ngoài trời đất để mà sống, làm chính
trị không ngoài cương thường để dựng nước. Bầy tôi của Đại vương
đây có người tên là Cữu (33) tiết cứng như tùng, lòng bền tựa đá, sa
cơ không chịu sống nhục, liều mình để được thác mà vinh; nếu
không phải nhà vua biết cách chống ngự thì sao có sự tử trung ấy!
Truyện (34) có nói rằng: "Vua khiến bề tôi lấy lễ, bề tôi thờ vua lấy
trung"; ở Đại vương đây, chính là đã đúng hợp với câu ấy. Chứ như
kẻ kia, sai Ung Sỉ giữ đất Phong thì Ung Sỉ đầu hàng, (35) sai Trần
Hy (36) coi nước Triệu thì Trần Hy làm phản; đạo cương thường hỏi
ai là hơn? Hậu cung của Đại vương có bà họ Ngu, mệnh nhẹ lá thu,
hồn theo bóng kiếm, gửi lòng thơm ở ngọn cỏ tịch mịch, chôn hờn
oán ở cánh đồng hoang vu (37) , nếu không phải nhà vua biết lẽ cư
xử thì sao có sự tận tiết ấy! Kinh Thi có câu rằng: "Dạy vợ mình
trước, sẽ trị nhà nước"; ở Đại vương đây chính là đã xứng đáng với
câu ấy. Chứ như kẻ kia, Lã Trĩ ngông ngạo mà làm việc dâm tà (38)
, Thích Cơ được yêu, rồi đầy thân con lợn (39) ; lẽ cương thường
hỏi bên nào hơn? Huống chi như trái lẽ trời mà bảo sẻ chén canh,
yêu con bé mà coi thường gốc nước; (40) luân thường cha con hỏi
rằng để đâu? Những người nghị luận ở đời sau, chẳng so nặng nhẹ,
chẳng xét phải trái, lòng không suy nghĩ, miệng chỉ quàng xiên, đối
Hán thì khen ngợi chẳng tiếc lời, đối Sở thì chê bai không tiếc sức,
khiến đấĐại vương của chúng tôi trong cõi u minh cứ phải chịu
những lời mỉa mai cay độc. Vậy mong những điều nhơ tiếng xấu,
phiền ông gột rửa giùm cho, cũng là một việc thú trong cuộc gặp gỡ
của chúng ta.
Ông Hồ thấy lời nói cũng hơi có lý, gật đầu hai ba lần, rồi ngoảnh
bảo những người theo:
- Các ngươi ghi nhớ lấy.
Rồi đó canh tàn trà cạn, ông đứng dậy từ giã xin về; Hạng vương
đưa chân ra đến cửa thì phương đông đã dần sáng rạng. Ông xốc
áo vùng dậy, té ra là một giấc chiêm bao, bèn mua rượu và nem bày
một lễ cúng ở đầu thuyền trước khi rời khỏi đấy.
Lời bình:
Than ôi, so Sở với Hán thì Hán hơn, sánh Hán với bậc vương đạo,
Hán còn xa lắm. Sao vậy? Hồng Môn nổi giận, Thái công tha về,
những việc ấy, Sở không phải là bất nhân; nhưng nhân nông mà ác
sâu. Làm cỏ Dĩnh Xuyên, (41) giết hại công thần, những việc ấy,
Hán không phải là không có lỗi, nhưng lỗi ít, tốt nhiều. Sở đã đành
trái với nhân nghĩa, nhưng Hán cũng chỉ là giống với nhân nghĩa. Họ
Hạng nước Sở không được là hạng bá giả mà vua Cao nhà Hán
cũng là tẹp nhẹp. Kẻ trị thiên hạ nên tiến lên đến đạo thuần vương,
còn Hán Sở nhân với bất nhân, hãy gác ra không cần bàn đến.
Chú thích
(1) Hồ Tông Thốc: người huyện Thổ Thành, nay là xã Thọ Thành,
huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; trú quán tại xã Vô Ngại, huyện
Đường Hào nay thuộc tỉnh Hải Dương. Đời Trần Nghệ Tông (13701372) đi sứ nhà Nguyên, làm quan đến chức Hàn lâm học sĩ Thẩm
hình viện sự, có tác phẩm Việt sử cương mục và Việt Nam thế chí,
Thảo nhàn hiệu tần thi tập, nhưng hiện chỉ còn một bài thơ.
(2) Non nước trăm hai: nhà Tần đóng đô ở Quan Trung, địa thế hiểm
yếu, hai người ở trong có thể chống với 100 người ở ngoài.
(3) Nói việc Hạng Vũ đốt cung A Phòng của nhà Tần.
Hàm Cốc: cửa quan hiểm yếu của nhà Tầ
(4) Tiệc ở Hồng Môn, Phạm Tăng định giết Bái Công nhưng Hạng
Vũ không nghe. Bái Công thoát về được, Tăng tức giận ném vỡ tan
cái đấu ngọc Trương Lương (Hán) biếu. ý câu thơ: đấu ngọc vỡ vụn
như tuyết, không còn gì nữa.
(5) Hạng Vũ bị vây ở Cái Hạ, đêm phá vòng vây chạy được đến Âm
Lăng, hỏi đường, bị một ông lão nông ghét Sở lừa chỉ đi về phía tả;
Vũ nghe theo bị mắc cái đầm lớn không còn đường chạy nữa. Vũ
than là "Trời định làm mất ta".
(6) Hạng Vũ chạy đến Ô Giang người lái đò khuyên qua sông sang
Giang Đông rồi sẽ tính kế quay về, nhưng Vũ không nghe, tự tử.
(7) Lỗ Công: tước Hạng Vũ được Hoài vương phong từ trước. Khi
Vũ thua chết, Hán Cao Tổ lấy lễ công mà chôn cất.
(8) Vạn Thặng: ngôi thiên từ có muôn cỗ xe.
(9) Điền Hoành: họ Điền vốn là họ của Tề Vương, người nước Tần.
Khi nước Tề bị diệt, Hoành tự lập làm Tề vương. Khi Hán diệt Hạng
Vũ, Hoành đem thuộc hạ chạy ra hải đảo. Hán Cao Tổ sai sứ ra mời
hứa phong tước vương, chí ít cũng là tước hầu; còn nếu không theo
sẽ đánh. Hoành định theo, nhưng khi gần về đến Lạc Dương lại đổi
ý, tự sát. Thuộc hạ đều chết theo.
(10) Hạng Vũ từng phong cho Bái công tước vương ở Ba Thục và
Hán Trung.
(11) Con hươu: ví với thiên hạ. Nhà Tần sổ mất con hươu: nhà Tần
bị mất thiên hạ.
(12) Chương Hàm: tướng nhà Tần. Hạng Vũ và Hạng Lương đánh
quân Chương Hàm ở Đông A hạ, đuổi đến Bộc Dương thì hoàn toàn
phá tan.
(13) Tổ Long: miếu thờ Tần Thủy Hoàng. Sứ giả Tần đêm đi qua
Hoa Âm, có người ngăn lại bảo "Năm nay Tổ Long chết". Tổ Long
chỉ Tần Thủy Hoàng, vì Long (rồng) là hình tượng của vua (Hoàng) ;
Tổ là người mở đầu, ứng với chữ Thủy.
(14) Kẻ thổi kèn dệt chiếu: chỉ Giáng hầu Chu Bộ vốn người đất
Quyển, sau dời sang đất Bái, thuở hàn vi thường phải dệt rèm trúc,
thổi kèn đám ma kiếm sống.
(15) Người cất vạc nhổ núi: chỉ Hạng Vũ. Hạng Lương khiến Hạng
Vũ chiêu tập bọn Vu Anh ở Đồ Sơn. Anh nói: "Trong miếu Vũ vương
có 3 chiếc vạc đá, nếu xô đổ rồi nhấc bổng lên được thì ta sẽ hàng.”
Vũ bèn xô đổ rồi lại dựng lên, sau đó cho một tay vào trong vạc nhấc
lên đi vòng trước cửa miếu ba lần, bọn Vu Anh đều bái phục. Chữ
nhổ núi (bạt sơn) , xuất phát từ bài ca tuyệt mệnh của Hạng Vũ: Lực
bạt sơn hề khí cái thế (sức có thể nhổ núi, khí trùm trời đất) .
(16) Hoài Âm tức Hoài Âm hầu, tước phong của Hàn Tín, tướng giỏi
của Lưu Bang. Chung Ly: có lẽ là tướng của Hạng Vũ, chưa rõ điển
tích.
(17) á Phụ: tức Phạm Tăng, mưu sĩ giỏi của Hạng Vũ.
(18) Nhụ Tử: có lẽ chỉ Trần Bình, người phụ tá có nhiều mưu lược
của Hán Cao Tổ.
(19) Phong Bái, Bành Thành: Phong Bái: chỉ quê hương Hán Cao
Tổ, vì ông người ấp Phong, huyện Bái; Bành Thành: đất của Tần.
Hạng Vũ diệt Tần, đóng đô ở đấy.
(20) Vương ế: Hạng Vũ bị thua ở Ô Giang, Vũ ngoái nhìn người kỵ
binh Hán là Lã Mã Đồng hỏi: "Anh có phải là bạn cũ của ta không?”
Mã Đồng nhận diện rồi chỉ cho Vương ế: "Đây là Hạng vương". Vũ
lại hỏi: "Ta nghe nói Hán vương treo giá đầu ta ngàn vàng và tước
vạn hộ. Ta cho ngươi đấy!” Nói rồi tự vẫn. Vương ế liền cắt đầu
Hạng Vũ nộp cho vua.
(21) Sở ca bốn mặt lệ tràn lan: Hạng Vũ đến Cai Hạ, binh thiếu,
lương hết, không đánh thắng được quân Hán lại bị vây bốn mặt.
Trương Lương dạy quân Hán hát tiếng nước Sở đêm đến cất tiếng
ca. Hạng Vũ nghe thấy bốn bề đều hát những bài ca nước Sở, thất
kinh nói: "Hán đã lấy được Sở rồi sao? Sao người Sở đông như
vậy?” Rồi đang đêm dậy uống rượu trong trướng, khóc ròng, thuộc
hạ đều khóc, không ai ngẩng lên được, quân tướng đều tan rã.
(22) Hai câu này trích trong bài thơ của Vương An Thạch, Tể tướng
thời Tống Thần Tông.
(23) Đỗ Mục (803-853) , một nhà thơ có tên tuổi thời Văn Đường;
hai câu này trích trong bài Đề Ô Giang đình.
(24) Mệnh ở trời: vua Trụ nhà Thương bạo ngược, trung thần
khuyên can thì nói "đã có mệnh trời".
(25) Tân Mãng: Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, đổi quốc hiệu là
Tân nên gọi là Tân Mãng. Hán Quang Vũ khởi binh đánh, Mãng nói:
"Trời đã sinh đức ở ta, quân Hán làm gì được ta?”
(26) Chém Tống Nghĩa... : Sở Hoài Vương phong Tống nghĩa làm
Thượng tướng, hiệu Khanh tử Quán quân, sai đem quân đánh Tần
cứu Triệu. Tống Nghĩa trùng trình không tiến quân, Hạng Vũ liền vào
trướng chém chết.
(27) Hạng Vũ đem quân đánh Hàm Dương, Tần vương là Tử Anh
đã hàng, vẫn bị giết.
(28) Hàn Sinh bị luộc: Hàn Sinh khuyên Hạng Vũ nên đóng đô ở
Quan Trung vì thế đất hiểm trở, phì nhiêu, có thể là nơi dựng nghiệp
bá được. Vũ thấy cung thất nhà Tần đã bị đốt sạch, có ý muốn trở
về Đông liền bảo: "Phú quý mà không trở về cố hương thì như mặc
áo gấm đi đêm còn ai biết đến nữa". Hàn Sinh tức lui về nói: "Thế
gian nói "người Sở là con khỉ đội mũ" quả như vậy". Chuyện đến tai
Vũ, biết Hàn Sinh nói mình, Vũ giận sai giết chết bỏ luộc.
(29) A Phòng... bị thiêu: A Phòng là một dãy cung điện rất lớn liên
tiếp nhau đến 300 dặm, cứ 5 bộ có một lầu, 10 bộ có một gác, lại
dẫn nước hai con sông lớn vào đến chân tường bao cung điện. Sau
bị Hạng Vũ đốt, hiện còn di chỉ ở huyện Tân An, tỉnh Thiểm Tây.
(30) Cái họa Trường Bình: Liêm Pha đóng quân ở Trường Bình, cố
thủ không ra đánh. Triệu vương cho Triệu Quát đến thay. Quát đổi
luật lệnh, dùng người dễ dãi, mở cửa thành đánh Tần, trúng kế kỳ
binh của Vũ Anh Quân bị đại bại. Hơn 40 vạn quân Triệu đều hàng
Tần, bị Vũ Anh Quân lừa giết chết hết.
(31) Hạng Vũ giết vua Nghĩa đế nước Sở, Hán vương theo mưu kế
của Đổng công cho ba quân để tang, gợi lòng trung nghĩa của họ và
kích động hào kiệt trong thiên hạ.
(32) Khúc Phụ: quê hương Khổng Tử.
(33) Cữu: Tào Cữu, Đại Tư mã nước Sở. Hạng vương sai Cữu giữ
thành Cao, dặn cố thủ không được đánh. Quân Hán khiêu chiến
mấy lần không được liền dùng kế nhục mạ Cữu suốt mấy ngày. Cữu
nổi giận đem quân vượt sông Tỵ thủy mà đánh. Quân lính mới sang
được nửa sông thì bị đánh bại, vật báu của nước Sở đều bị lấy hết;
Cữu và Tư Mã Hân đều tự tử chết.
(34) Truyện: chỉ sách Luận ngữ. Câu này trích trong thiên Tử Hãn.
(35) Ung Sỉ: trước theo Hán Cao Tổ được sai giữ đất Phong. Khi
Phong bị Ngụy chiếm, Sỉ hàng Ngụy, Hán Cao Tổ không có đường
về phải dời sang đất Bái.
(36) Trần Hy: Hán Cao Tổ phong Trần Hy làm Tướng quốc coi quân
biên. Sau Trần Hy cùng Vương Hoàng làm phản, tự lập làm vương,
cướp phá Triệu, Đại.
(37) Hạng Vũ cùng đường ở Cai Hạ, vợ là Ngu Cơ tự tử để chồng
khỏi vướng víu bịn rịn. Tục truyền trên mộ nàng mọc lên một thứ cỏ
thơm gọi là cỏ "Ngu mỹ nhân".
(38) Lã Trĩ là hoàng hậu của Hán Cao Tổ (cũng gọi là Lã Hậu) , khi
còn ở trong quân Hạng vương làm con tin cùng Thẩm Tự Kỳ vốn đã
thích nhau, sau Lã Hậu...
 





