Tuyển tập truyện ngắn Vũ Trọng Phụng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Ngọc Nam (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:21' 26-11-2024
Dung lượng: 917.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Ngọc Nam (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:21' 26-11-2024
Dung lượng: 917.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chống nạng lên đường (1931)
Mấy hôm nay,thằng Hai Xuân xem ra có ý lo buồn lắm.Phải, ở vào
cái cảnh như nó bây giờ,thì đến ai mà chả đâm lo;bảo nó không buồn sao
được?
Từ ngày mọi người còn thấy nó cầm đôi tay xe chạy trên đường đê
Gia Quất thì thằng Hai vẫn là người vui tính nhất làng.Vào những buổi
chiều mùa hạ sáo diều vo vo réo rắt hay buổi chiều mùa thu gió vàng hắt
hiu,trong những cảnh hoàng hôn của tiết xuân mát mẻ hay của trời đông
lạnh lùng;mỗi khi hình thằng Hai tay vòng càng đi trước cái xe,vẽ cái
bóng thật dài trên giải đường trắng xoá,thì tận trong làng xa lắc xa lơ
cũng có người nghe thấy nó cất giọng ồ ồ,nghêu ngao hát cái bài “xẩm”
của nó tuy cụt đầu cụt đuôi thật,nhưng nghe nó cũng hay hay: ...Còn trời
(mà )còn nước,còn non...
Còn cô (mà ) còn cô bán rượu,( ý y )anh (a ) còn (thì )say sưa...(chừ
này mình ơi... Ý y ỳ ý y tang tình tính tang...!!! )
Thật vậy! cái đoạn đời ấy tuy trước mắt bọn giàu chỉ là cái đời khốn
nạn của con “ngựa người” ngày ngày “dang”chân trên mạt đường rải
nhựa khi lửa hạ chang chang,hay bì bõm trên giải đê trơn mỡ đổ khi mưa
phùn gió bấc...mà đối với thằng Hai,nó vẫn cho là vui vẻ lắm...
Nó được vui vẻ nhất là sau khi,trước cái mái trnh lụp xụp nó đặt
“phịch” càng xe,rảo cẳng chạy vào sân, đến chỉnh nước ngửa cổ “tu” một
hơi nước lã thật dài xong thở đánh “hà à à”một cái rất khoái trí rồi cầm
mảnh mo vừa quạt vừa bước vào nhà ngơ ngác nhìn xem bố mẹ đã thổi
chín cơm chưa, để liệu dọn mâm bát,không thì giốc nẹp áo lấy ra một
nắm đầy bàn tay những mảnh tròn tròn bằng đủ thứ:thau, đồng,kền,bạc
vừa hào vừa xu đưa cho mẹ mà rằng: “U mua vào đây cho tôi vài xu
diêm thuốc”.
Mâm cơm dọn xong,nó chỉ còn chờ anh Cả cho nó đi làm về là cùng
ngồi vào,tuy bữa nào cũng chẳng hơn gì bữa nào,chỉ rặt cà,tương,dưa
muối mà thằng Xuân ăn thấy ngon.Nó ăn được ngon là vì nó đã kéo xe
nhọc mệt cả ngày,là vì không những nó đã chẳng phải ăn nhờ ai mà lại
còn nuôi được bố được mẹ, đỡ anh,anh nó,một người phu kíp ở ga Gia
Lâm,mỗi tháng kiếm không đầy chục bạc.
Khốn nạn thay cho thằng Hai Xuân! Bây giờ khác hẳn xưa rồi... Đến
cái nghề kéo xe kể đã là cùng cực mà nó cũng không đang nổi nữa vì
người ta đã cướp cơm của nó,một cái xe hơi đã vồ phải nó, đánh gẫy của
nó mất một bên chân,rồi vào nhà thương,người ta đền cho nó một cái
khác bằng gỗ để mặc nó lộc cộc chống nạn về nhà...
Bay giờ nó đành phải ăn nhờ vào anh,mà từ khi nó được cái chân gỗ
thì những bữa rau cháo buổi xưa cũng ra điều chểnh mảng,không được
đúng hẹn nữa.Không đầy chục bạc mà bốn miệng ăn...! lại tiền thuê nhà,
ấy là chưa kể đến những món vặt khác như áo,quần củi lửa...tuy không
để đem chôn vào bụng mà cũng cần như hạt muối,hạt gạo,gia đình nhà
nó sống trong một cảnh túng bấn cực kỳ,chỉ hơn được ăn mày một nước
là không phải ngửa tay xin lấy của ai.Gạo đỏ còn phải ăn kém hơn ngô
khoai nên bố mẹ nó,tuy trên đầu tóc đã pha mùi,hàm răng chiếc đã lung
lay,chiếc rụng mặc dầu,cũng đành bưng đến bát cơm ngô,cơm khoai
mà...khốn thay! vẫn thiếu...! Ðã nhiều lần bố mẹ thằng Hai và nó phải
bấm bụng nhịn đi để anh Cả nó về được ăn no đủ - vì là người kiếm ra
tiền – anh nó chẳng phải tay vừa,nếu để thiếu cơm thì nó sẽ thấy ngay
anh nó mắng bố,gắt mẹ,chửi nồi,chửi rế,chửi đôi guốc đang đi mà đứt
quai,chửi xó nhà lắm muỗi vo vo...
Thằng Xuân mấy hôm nay xem ra có ý lo buồn lắm
Một buổi chiều hè kia,sau khi chống nạn lang thang đi khắp đó đây từ độ nó què,không có việc gì nó vẫn lang thang như thế - thằng Hai lên
cầu ngồi hóng mát.Lúc ấy có lẽ đến 6 giờ rồi,bụng nó đã thấy đói như
cào mà nó vẫn chưa dám tưởng đến sự về nhà vì nó chắc thế nào anh nó
cũng cau cau nét mặt nhìn nó ra ý bất bình hay hỏi căn vặn nó bằng
những câu chẳng được nhẹ nhàng như khi nó chửa cụt cẳng.Nó đói lắm
nhưng nó vẫn cố gượng cho khuây,ngồi nép vào sát với thành cầu,nó
lẳng lặng trông mây,trông nước.
Mặt trời đỏ hỏn như một hòn than tròn đã từ từ rẽ những đám mây
chồng chất lên nhau mà lặn xuống chân trời,trước mắt nó,giẫy núi Tản
Viên ba chòm xanh biếc,mập mờ trong đám sương nhoà dưới chân điểm
ngang một nét xanh xanh biết bao làng mạc, đứng sừng sững như một
bức trường thành trên mặt nước đỏ ngầu.Sông Nhị bấy giờ đang ào ào
đập bọt vào mấy chân cầu,dữ dội mà hung hăng như một người điên bị ai
trêu ghẹo.Trông về đằng đông,lại dòng nước Nhị Hà,dài rộng mênh
mang,hai bên bờ xa nhau mờ mịt,mấy cánh buồm căng thẳng,xa lơ xa
lắc,sxa đến nổi tuy con thuyền đang chạy băng băng mà trông vẫn phải
tưởng như không,như chỉ cắm sào một chỗ.
Thành phố Hà Nội,phơi mình dưới một tầng mây dài dằng dặc mà đỏ
ối như thể đám lửa hung hăng,phô lên những rặng mái nhà chi chít nhấp
nhô,mảng đen mảng đỏ,rồi,nhoi lên cao hơn hết thảy,này ngọn cột cờ và
ống khói sở Máy tơ tiêu điều vì không đắc dụng,này đôi trụ nhà Thớ
chính đưa ra những hồi chuông văng vẳng chiều hôm,này mấy cột vô
tuyến điện làng Vọng mập mờ mà cao ngất,lênh khênh như muốn chọc
trời.
Trên cầu lúc ấy không thấy bọn người áo quần lam lũ,gồng gánh qua
lại nữa.Cái giờ ấy là cái giờ đuổi bọn người kém phúc này tất tả về
nhà,chúi đầu vào bếp vần nồi cơm gạo đỏ bưng lên xới cho một ông bố
hay một bà mẹ mù loà hoặc ôm vội lấy đứa con gầy ngẳng,từ sáng chưa
trông thấy mặt mẹ,nhét cái vú mướp vào miệng nó mà cất giọng: “à
ơi...”,rủ nhau náu mình dưới những mái tranh lụp xụp cho khỏi làm bẩn
mắ bọn tỉnh thành,bọn giàu hay có cái vẻ giàu bấy giờ đã nghênh
ngang,lũ lượt,kéo nhau lên hóng mát.
NHững đoàn xe hơi bệ vệ mà không lịch sự,nối đuôi nhau,tiếng còi
inh ỏi,sang sang,về về,dồn các bác phu xe ngửa ngực kéo,hớt hơ hớt hải
chạy vào những chỗ tránh của họ,hình ảnh cái mãnh lực tuyệt đối của cơ
khí bao giờ cũng chỉ lợi riêng cho một bọn.
Thấy vẽ rỏ ra trước mắt nó cái cảnh phồn thịnh nhường kia,Hai Xuân
tuy là một thằng què,một thằng chân gỗ thật mà vẫn có lòng quảng đại
nhìn đời bằng con mắt lạc quan,chẳng vì thấy mình tàng tật kém người
mà thù hằn oán ghét họ.
Một cặp uyên ương người vận tây,người quần trắng áo lam thung
dung lướt qua mắt nó.
Nó ngẩn người ra! Chưa bao giờ nó được trông thấy cô nào xinh đẹp
đến thế.Nhất là cái mũ nhung đang quay vòng tròn trên hai ngón tay cái
với đôi hoa kim cương lóng lánh với làn tóc mây phất phơ bên đôi má
mơn mởn cô làm nó phải lõ mắt nhìn. “Hai vợ chồng nhà nầy hẳn sướng
hơn người!...” lần thần nó nghĩ.
Người dạo chơi trên cầu dần dần càng đông, đôn gnhư thể rủ nhau
trảy hội.Theo sau cặp trai gái xinh đẹp ấy,một ông béo phục phà phục
phịch,hai bên má chảy xệ xuống như má lợn xề,hình như trời xinh ra chỉ
để nhai toàn những của ngon vật lạ nên cái bụng nghênh ngang trên bộ
giò chữ bát chẳng đủ sức khiêng ông,bắt cái đầu và cái ngực phải dồn cả
lại đằng sau. Ông bày bụng ra một cách vênh váo,bệ vệ đi trước để theo
sau,một bà gầy nhẳng cao lênh khênh,mình lép như bồ kếp,một cái mái
đẻ sắp đến hồi phế thải.Hai Xuân cứ bịt mồm nhịn cười chẳng được vì
nó nghĩ ngay đến một miếng đồng dần dần tất phải dài ra nếu bị một cái
búa nặng bên trên cứ ngày ngày nện xuống.
Rồi đến những cậu đầu trần,tóc mượt nhẹ nhàng cưỡi trên những con
“ngựa sắt” sáng choang hay phong phanh trong những bộ áo lót mình kẻ
dọc kẻ ngang sặc sỡ,rồi đến các con nhởn nhơ trong những bộ “cánh cào
cào”vàng, đỏ,tím,lam,rồi có cả một vài cụ già quần lụa áo sa,tay quạt,mắt
kính,ung dung dạo gót nhìn non nước mà chẳng buồn nhìn đến bọn trẻ
ranh.
Thằng Hai trông đám người ấy chẳng bằng con mắt ác cảm.Nó rất
ước ao được có ngày thảnh thơi như họ,nó coi họ như hạn người đã được
trời thương,mà trời đã thương ai, đã ban hạnh phúc cho ai thì người ấy
đã đành là xứng đáng.
Còn nó nghèo,nó khổ,nó đổ là tại số.Tại số? Phải,những bộ óc rắn
đặc như óc nó thì bao giờ lý hội sự đời cũng chỉ thấy toàn số,mệnh.Nó
không biết rằng bố mẹ nó đã bị xã hội hắt hủi vào cái cấp hạ lưu đê tiện
thì không còn mong gì ngoi ngóp được lên, đã không ngoi ngóp được
lên,thì tiền đâu nuôi nó,cho nó học hành,mà nó chẳng phải cầm đến cái
tay xe? Ðã cầm đến bộ tay xe,không những nó phải ra sức kéo người có
tiền cỡi nó,nó còn phải đem mảnh thân cát bụi của nó ra chiế đấu với tạo
vật,với những tia mắt mặt trời dữ dội chiếu xuống đốt lưng đốt gáy
nó,với những trận mưa trận gió phũ phàng ném những hạt nước nặng nề
thẳng vào mặt nó,thổi tung cát bụi lên làm tối mắt nó hay đưa lạng cả xe
nó kéo về đằng sau,làm tròng trành sang bên phải,bên trái,tròng trành
như một chiếc thuyền.Nào đã hết đâu!...Thắng được tạo vật rồi,nó còn lại
phải chiến đấu nữa,chiến đấu với cơ khí,chiến đấu để nuôi thân.Những
ông đại tư bản,giàu có hàng triệu,có thể nuôi nổi không biết cơ man nào
hạng người như nó,cũng cạnh tranh với nó.Rồi các ông ấy mang ra
đường sắt những đoàn xe lửa hùng hổ để chạy thi với anh cu li bé nhỏ
yếu ớt kia.Những ông tiểu tư bản cũng chẳng tha nó nào,cũng lại cướp
cơm của nó.Mỗi khi nó khom lưng kéo chiếc xe tay thì những tiếng còi
inh ỏilàm lọan óc nó,những chiếc xe hơi máy chạy vo vo phun khói mù
trời,dồn nó,hắt nó vào một bên đường để tranh lên bước trước.
Mặt trời vẫn “tưới” trên lưng nó một lớp mồ hôi,khúc đường tráng
nhựa chang chang không một bóng cây vẫn ở dưới châm kim lên hai bàn
chân nó,hỏa trong mình nó bắt lên hai mắt đỏ ngầu,cát bụi bốc lên làm
nó tối xẩm mắt lại, đoàn xe hơi vẫn sùng sục đuổi nhau,rồi không biết
thế nào,một chiếc vồ phải nó,hắt người khách của nó vào một góc
đường,hắt nó té nhào xuống đấy.
Khi nó mỡ mắt ra thì nó thấy nó đã được nằm trong một gian buồng
nhà thương Hà Nội.Bố mẹ nó ngồi cả bên giường,tay bưng lên mặt mà
khóc tỉ tê; quan đốc tờ bảo nó đến phải cưa chân.
Nó ngơ ngác nhìn hết mọi người rồi hỏi họ rằng:nó được người ta
đền cho bao nhiêu tất cả?Người ta chỉ nhìn nó mà cười một cách chế
nhạo rồi bảo rằng người ta đền cho nó một cái chân gỗ,chỉ một cái chân
gỗ và một cái nạn thôi,nó đã đi trái luật.Trái luật ư? Không,quyết là
không,chẳng khi nào nó đi trái luật bao giờ,nó còn nhớ rõ,quả thật hôm
ấy nó vẫn đi bên tay phải.
Vẫn đi bên tay phải ư?... Ðối vớ hạng người như nó,họ chỉ cần đáp
lại một câu:mặc kệ! – Thân nó từ đấy què cụt,ai nuôi? -Mặc kệ! - Bố mẹ
nó già lão thế kia rồi sẽ ra sao? - Mặc kệ!...Họ mặc kệ hết thẩy,nó chỉ
đành từ đấy lê cái chân gỗ suốt đời,vì chẳng ai đã làm chứng cho nó
trong lúc tai nạn xảy ra nó vẫn đi bên phải.
Trên cầu người dạo chơi bóng mát lại càng đông thêm.Thỉnh
thoảng,một cặp trai gái lướt qua mặt nó, để lại cho nó một ít hương thơm
thoang thoảng.Nó bỡ ngỡ đưa hai con mắt nhìn hết người,mà ồ nầy! chả
ai buồn nhìn đến nó,nó chỉ là một thằng què cụt,rách rưới,khốn nạn,ai
nhìn đến nó làm gì...!
Thằng què! thằng què lòng tự nhủ lòng,Hai Xuân rầu rầu nét mặt
nhìn xuống cái chân gỗ...Những người chung xóm nó,những anh em
đồng ngiệp nó ít lâu nay đã cải tên của nó, đã gọi nó là thằng Hai
Què.Thằng què! ôi đau đớn!...
Mặt trời lúc ấy đã lặn hẳn,nhường cho những ngôi sao lăn tăn lấp
lánh trên khoảng không trung.Dẫy đèn điện trên cầu,trong một cái chớp
mắt, đã rủ nhau bật đều lên cả,ló ra những đám lửa đỏ hung hung có vẻ
buồn rầu và kèm cho mỗi người dạo mát một cái bóng hiện trên những
thửa gỗ lim,nó lặng im,bé lại hay dài ra tùy ở con người đứng trên một
chỗ hay đi đi lại lại.
Trông về Hà Nội,dưới tầng mây bạc lộn vẩy tê tê,thành phố tung lên
một giải hào quang sáng lòa cả mắt mà kéo dài một mạch từ ô Yên Phụ
đến tận Lò Lợn giáp với Thanh Trì,dẫy đèn điện bờ sông ra công “phá
tối” sáng quắc và thẳng băng như chuỗi hạt kim cương.
Cảnh vật đều vui,nhưng Hai Xuân chỉ là một thằng què cụt...!
Nó buồn,buồn lắm!
Rồi nó bỗng thấy nó rất đáng hổ thẹn trong đám đông người ấy,hổ
thẹn như một con vật ghẻ lở trốn vào đâu cũng bị hắt hủi đuổi ra.
Nó không dám nhìn họ nữa,quay mặt vào thành cầu,nó tựa cằm vào
một thanh sắt mà nhìn xuống nước,nhìn những ngọn đèn điện từ trên ánh
xuống bị dòng nước l-oi cuốn đi làm tan nát ra như muôn nghìn mảnh
kính,như muốn trôi đi mà lại như muốn đọng đấy,lửng lơ một chỗ,lạ mắt
vô cùng.Rồi nó vẳng nghe thấy dưới nó tiếng chèo bì bõm,tiếng trẻ khóc
oa oa,tiếng cái điếu cày có người rít một hơi sòng sọc.
Nó cố định thần nhìn xuống;một chiếc tưyền từ từ ở gầm cầu chui
ra,lù lù mà bí mật như một con quái vật nó thường gặp ta trong những
đêm trằn trọc có chiêm bao ghê gớm vậy.
Từ khoang thuyền chiếu ra ánh sáng hiu hắt một ngọn đèn con để
thằng Hai thoáng nhìn thấy bóng một người đàn bà cầm chèo ngả
nghiêng đằng mũi,ngả nghiêng một cách rất táo bạo như có lúc muốn lăn
tòm xuống nước,táo bạo như bóng một con ma đen.
Chiếc thuyền cứ đủng đỉnh mà đi để lại mặt nước chỗ sóng sôi cuồn
cuộn,bọt trắng ngầu ngầu,chỗ xô nhau,xoáy nhau,tròn như một cơn gió
lốc,chỗ lăn tăn vẩy cá và chỗ phẳng lặng lạ lùng,phẳng lặng mà bì bì
đóng váng như một bát nước cơm.
-“Chà! sung sướng biết bao! nếu mình lềnh bềnh trôi trên làn sóng
ấy!...
Thằng Hai chợt nghĩ thế,nghĩ đến cách tự tử ấy một cách âm
thầm.Nó sống mà làm gì nữa?...nó chết đi là phải,rất phải,np& chẳng còn
nên tiếc gì đời,cái đời què cụt không kế sinh nhai.Rồi nó khỏi phải đau
lòng trông thấy những tấn tuồng “con mắng mẹ vì thiếu cơm ăn”mà rồi
đâu anh nó lại đem diễnra trước mắt nó,nó sẽ khỏi phải trông thấy cái
cảnh tượng bố nó mẹ nó vêu vao nét mặt,ngồi mỗi người một xó mà nhỏ
lệ đầm đìa. Ðược lìa đời,nó sẽ thoát khỏi mọi điều đau khổ.Cái đời nó
nay xoay ra đến thế là tuyệt vô hy vọng,trời không thương nó nữa vì xưa
nay nó chỉ mong có lấy được một bộ chân khỏe mạnh để kéo cái xe tay,
để nuôi thân và nuôi cha mẹ mà thôi. Ông trời ngày nay bắt nó què
cụt,nó còn sống nữa làm gì?...Nó đã đau khổ lắm...Vì đâu nó đến nõi
phải liều thân như vậy?Chao ôi! nếu nó vẫn có đủ cả hai chân như mọi
người!...
Hai Xuân mệt quá,mệt lả người đi,thiếp mất đi.
Nhưng một sức mạnh vô hình đã đến bao phủ lấy nó,lay nó dậy,dựng
nó đứng lên,giục nó trông trước nhìn sau chẳng thấy ai đứng đấy thì trèo
lên thành cầu, đăm đăm nhìn xuống nước.Chỉ trong một vài giây đồng hồ
nó cũng đủ thấy rợn,nó nhấm nghiền mắt lại,liều buông tay ra. Ðánh
bõm một cái thân nó đã bị làn sóng cuồn cuộn xuống,nước lạnh ùa vào
tai,vào mắt,vào mũi,vào mồm nó,nó như ngây như dại,nhưn gnó vẫn
thấy hình như trên cầu có tiếng người rộn rịp chạy,tiếng kêu tiếng thét
lào xào,họ túm cả vào một chỗ mà chỉ chỏ cho nhau,thảy đều sửng
sốt,những con mắt long sòng sọc xiên qua quãng tôi tìm tòi xác nó,lại
văng vẳng có tiếng người kêu...
Hồ ồ ồ ồ ồ ồ ha a a a a a!...
Một tiếng còi đinh tai làm Hai Xuân giật mình đánh thót một cái.
Nó bàng hoàng cả người,chớp mắt luôn mấy cái rồi định thần nhìn kỷ
mới biết nó vẫn ngồi gục đầu xuống đấy mà ngủ quên đi mất tự bao
giờ,nước dãi nó đã chẩy ra đầy một bên má nó.Như một vòng trong đèn
cù,những người hóng mát vẫn ung dung lướt qua mặt nó, đến bấy giờ họ
mới dừng chân cả lại đứng chờ xem một chuyến tầu về...
Sình sình sình sình! sình sình sình sình!...cả cầu chuyển động,trên
đường sắt hiện ra trong đám tối hai con mắt lửa đỏ ngầu,một cái miệng
phun khói ra đen nghịt,rồi như một trận cuồng phong,cái đống sắt đen lù
lù ghê gớm ấy phăng phăng trôi qua mắt nó,kéo một dẫy dài đến mười
cái toa những người đông nghịt,họ đứng lố nhố mà nghênh ngáo nhìn
quanh.
THằng Hai đực mặt ra trông chuyến tầu ấy nó đi đến đâ làm rung
chuyển đến đấy như một trận động đất dữ dội,nó làm nhấp nháy muốn tắt
cả hai dãy đèn điện trên cầu mãi đến lúc nó đã đi xa,chỉ để lại cho mọi
người một ngọn lửa đỏ tù mù ở sau toa cuối cùng nó dần dần biến mất đi
trong đám tối...
Không,Hai Xuân chưa chết.Nó hãy còn trơ trơ ngồi đó,nó chưa ném
mình xuống nước bao giờ;Nó nghĩ đến cái chết dại dột kia mà chợt rùng
mình,rùng mình lạnh toát cả người như trong một cơn(...)thấy muốn
đứng dậy lần về nhà nhìn mặt bố mẹ nó,nhìn mặt anh nódẫu rằng anh
nó,nó cũng bằng lòng.Rồi nó cầm lấy nạng.
Bỗng nó thấy đói lắm, đói đến nổi không đứng lên được nữa, đói quá
đi mất.Nó lại thấy lâm râm hơi đau bụng mà chân tay nó mỏi lả đi như
đã mất hết cả gân.Nhưng biết làm thế nào?nó chỉ đành cố sức đứng
lên,chống nạng mà đi,cái nạng gỗ rắn quá,cứ đâm nhoi nhói vào chỗ
xương nách nó chửa quen dùng,làm đau chết điếng người đi được.
Ði hết cầu,xuống đường đê thì trời tối đen như mực.Nó cứ nghe tiếng
mấy người đàn bà đi trước nó mà lần theo họ,theo mãi đi đến nữa
giờ.Rồi nó dừng chân trước một mái gianh,một cái lều tồi tàn, đổ
nát,rách rưới ở ngay đầu xóm,bên trong có ngọn lửa to bằng hạt đậu, ánh
sáng tiêu điều lách qua phên cửa chiếu ra.Nó chưa dám vào ngay,nó còn
lẳng lặng nghe xem sao đã.
Thốt nhiên như có một cơn gió buốt xiên vào tai,vào gáy thằng Hai
làm nó rét lạnh cả người,từ đầu đến chân run như cầy sấy,rõ ràng như có
tiếng mẹ nó,người mẹ rất thân yêu của nó sụt sùi,như muốn khóc mà như
cố nín,cố nín vì phải sợ ai.Nó rón rén tiến gần đến cửa,vén cái mành
mành rách lên,nhịn thở nhìn vào. Ôi! một cảnh buồn!...buồn chết người
đi được!...
Bố nó,một ông lão ngót 60 tuổi,cởi trần,gầy gò như một bộ
xương,ngồi một góc phản,hai tay để trên hai đầu gối, đầu cúi về đằng
trước,ngây người ra như một cái tượng.Mẹ nó ngồi sệp dưới đất,gục mặt
xuống đầu gối,hai tay ôm chân,còn anh Cả nó thì nằm thẳng cẳng trên
giường,chốc chốc lại dằn vặt chân tay như đang có chuyện gì làm bực
tức đến cực điểm.Mẹ nó vẫn tỉ tê khóc lóc,chợt anh nó ngồi vùng dậy
như bị một cái lò xo sai khiến rồi đập tay xuống bàn đánh “bộp”một cái
mà quát:
-Bà thương nó phải không?Bà cũng phải biết mới được chớ!Nó có là
bố tôi đâu?Bà còn tỉ tê nổi gì?
Hai Xuân đứng ngoài tái mặt đi.Vì nó,anh nó đã sinh chuyện với bố
mẹ rồi.Nhưng nó vẫn phải lẳng lặng đứng nghe,bố nó vẫn ngồi
yên,chẳng nói chẳng rằng,mẹ nó vẫn sụt sùi,tay bưng lấy mặt.Anh nó
lườm mẹ nó một cách trông rất khả ố rồi lại nằm vật xuống giường,thở
dài một cái ra chiều rất chán nản.Sau một lát,anh nó lại xấn xổ nói:
-Này tôi bảo thật,lần này là lần cuối cùng đấy...nếu cái thằng mặt chó
ấy nó vác xác về đây thì cả ông cả bà liệu mà bảo nó đi đâu thì đi...biết
chưa? Ông bà đã nghe chưa?...tôi chỉ có một bố thôi nhé!...Năm nay tôi
ngót ba mươi tuổi đầu rồi mà chưa có vợ con gì cả,vẫn cô độc cô quả thế
này là vì những ai?... Ông bà có biết không?Nếu bà thương nó thì bà đi
ngay đi...có gì ghói ghém ngay lại mà đi theo nó... Đi ăn mày với
nó...Rồi lại chả lo được ăn mày cả lũ cho mà xem à?...nay mai nhà máy
loại người thì biết ngay chứ khó gì...!
Mẹ nó đến bây giờ mới hậm hực nói:
-...Thì rồi tao bảo nó,việc gì mày phải vội mắng tao...?mày không
nuôi nó nữa thì thôi mà... Để tao bảo nó mà... Để tao đuổi nó đi mà...tao
vẫn bảo.
Anh nó lần này quát lại to hơn trước:
-Vẫn bảo à?vẫn bảo mà để mấy tháng nữa?sao không bảo ngay đi có
được không?
Bố nó bấy giờ mới khẻ nói:
-Ở thì ở chứ mấy hôm nay nó có dám xin ăn xin uống gì đâu!
Anh nó ra ý tức đến cực điểm lại gắt:
-Thôi đi ông... Ông đừng vào hùa nữa...nó không ăn gì thì chó ăn à?
chó ăn cả đấy à...
Nghe đến đây,thằng Hai thấy trong mình sôi máu lên sùng sục.Nó
những muốn nhảy xổ ngay vào nhà,giơ nạng lên mà phang cho anh nó
luôn mấy cái,nhất là đến vỡ đầu sứt trán thì thôi.Nhưng anh nó bỗng lại
thấy ngồi nhỏm lên,vớ lấy cổ cái chai để trên bàn,nện xuống đánh
“thình” một cái rồi giơ chai như muốn xỉa xói vào mặt ông bố:
-Ðể tí nữa nó về đây xem! Tôi sẽ hỏi nó xem mấy hôm nay,nó không
ăn gì sao nó sống được...tôi sẽ đập cái chai này vào mặt nó xem nó có
phải nói thực không thì sẽ biết...muốn chối mà được à?
Hai Xuân rùng mình...Trống ngực nó bỗng thấy đập mạnh,hơi thở nó
bổng thấy hồng hộc,nó thở ra khò khè cả lổ mũi.Rồi nó sợ hải quá,sợ hải
quá đi mất,tưởng chừng như anh nó đã nghe thấy nó thở, đã biết là nó
đứng đấy nên nhẩy xổ ngay ra,cầm chai thẳng cánh dơ lên,toan đập vào
giữa trán nó.Nó vội dơ tay lên như muốn đỡ,chống nạng giật lùi mấy
bước rất kinh hãi,ngẩn ngơ như kẻ mất hồn,như đã bị một thương vào
trán thật.Trước túp lều tranh ấy,trong đám tối ấy,nó đứng ngây người ra
một lúc rất lâu.Rồi nó thấy ghê quá,sợ quá,không dám...(bản chụp mất
khoảng 10 từ)gót lủi thủi chống nạn bước đi,bước liều đi chẳng biết đi
đâu,trong lòng nửa buồn nửa tủi,phần thương bố mẹ,phần giận anh đau
đớn đến tê dại cả người,nó cứ lủi thủi bước đi,trốn tránh đi,buồn rầu như
một con chó cụp đuôi mà chạy vì có người đuồi theo ném đá.
Nó cứ lần mò trong tối,chống nạn mà đi,cứ đi thế mãi.Chợt nó đứng
dừng lại,ngạc nhiên lắm,rồi tự hỏi:ta định đi đâu bây giờ?...rồi nó đứng ỳ
ra đấy,chẳng biết nghĩ sao.Nhưng sau nó nhớ ngay đến một chỗ bờ đê
gần đấy có một cây nhãn rất to,dưới gốc mặt đất nhẵn lì vì ban
ngày,những trẻ chăn trâu vẫn họp nhau đánh đáo,cây cao bóng mát,có thể
hứa với nó được một giấc ngũ no say,không phải lo gì đến chuyện
rắn,rết.Nó lại trông thẳng mà bước chân đi,chưa được bao lâu đã thấy
hiện ngay ra trước mắt nó cái bóng nhãn lù lù mà nó đang mong mỏi.
Nó ném mình vào chỗ tối ghê tối gớm ấy,tay quờ quạng tìm một rễ
cây để gối đầu nằm kềnh xuống đất,vắt tay lên trán mà thở hồng hộc như
bò.
Chung quanh chỗ ấy,cánh đồng rộng thênh thang,lác đác vài nơi ngoi
lên những rặng tre lố nhố, đều đắm đuối trong một bức màn dày,lúc đó
càng thêm mù mịt vì những đám mây đen nghịt đã kéo đâu về,che lấp cả
các ngôi sao.
Những tiếng “ộp oạp” đưa lên inh ỏi,những tiếng chó sủa văng vẳng
lao xao,lại trên không,những đàn vạc ăn đêm thỉnh thoảng bay qua, đua
nhau kêu líu ta líu tíu.Một cơn gió mát lạnh, đượm những hơi mưa,thổi
điều hòa, đập rào rào vào vòm lá nhãn,khởi ra mùi bọ xít thoang thoảng
hôi nồng nặc.
Hai Xuân nằm lăn dưới gốc,chân tay uy đã mỏi như dần mà mắt vẫn
còn thao lắo nhìn đêm,cái đêm tối tăm, đau khổ,cái đêm không
giăng,không sao,cái đêm bí mật,nặng nề của những chuyện tự tử,quyên
sinh..
Thôi,từ đêm ấy trở đi,nó không còn mong gì bước chân về nhà
nữa,nó đành phải bỏ túp lều tranh rách rưới,tồi tàn mà rất thân yêu
ấy,bấy nay trong hai mươi mấy năm trời đã quây quần dưới mái nào
cha,nào mẹ,nào anh và nó, đã đếm qua những ngày giờ vui sướng cũng
như ngày giờ đau khổ, đã bao lần che chở cho nó được yên thân trong
những cơn vũ bão tưạ như lở đất long trời.Rồi đây,thân phận nó sẽ
nổi,chìm,rôi,giạt,lênh đênh như những cánh bèo mặt nước,như những
mảng bọt giữa sông,cái chân gỗ nặng nề đã phá tan trong óc nó mất mối
hy vọng đến những ngày no ấm, đã bầy ngây ra trước mắt nó cái đoạn
đời khốn nạn của người hành khất;lúc mưa cũng như lúc nắng, đến cửa
nhà nào cũng chỉ như để đợi nghe cái câu bất tử: “không sẳn!... Đi đi”.
Ðau lòng quá đổi,thằng Hai tay bưng lấy mặt,khóc lên rưng rức.Chợt
một cơn sấm động u ù làm nó sợ hãi đến bay hồn.Trên trời bấy giờ sấm
chớp đùng đùng,gió thổi lại càng thêm mạnh. “Chết nổi! mưa bây giờ thì
mình ra sao?...dễ thường số mình bị trời đánh chắc?”Nó vừa bâng
khuâng nghĩ thế thì đã thấy “lộp bộp” một vài hạt nước mưa to ném
xuống như mấy tiếng dạo trong một khúc đàn rồi,theo sau vài cơn gió
mạnh,bài âm nhạc sầm sập,rào rào chỉ những cơn gió thổi từng cơn,tiếng
nước tơi rả rích kéo dài cái điệu buồn buồn mà tẻ ngắt vì không thay
đổi,cái khúc âm nhạc rả rích “trời mưa”.
Thằng Hai phải vớ nạng đứng ngay lên,tìm cách náu mình,lom khom
ẩn dưới gốc cây.Thỉnh thoảng,một vài giọt nước rơi vào mặt,vào đầu,vào
gáy,vào lưng nó,làm nó rét run lên cầm cập mà dưới đất,những hạt mưa
lăn tăn bắn lên chân nó làm nó thấy ngứa ngáy khó chịu vô cùng.Nhưng
nó chỉ đành lom khom đứng yên một chỗ,lưng mõi rả rời,chốc chốc
ngoáp dài một cái rồi lại nhìn đến cơn mưa,cái cơn mưa trút nước của
những ngày hè uể oải,có dư sấm sét rất đáng lo ngại.Hai ba lần,nó phải
bưng tai,nhắm mắt,trong lòng hồi hộp mà chờ cái chết vì ngay trên đầu
nó thấy những cơn “ùng ục”dữ dội.Cũng may,những con ma chắc không
bay đến ẩn mình vào cây nhãn ấy (?)nên những tiếng sét “đoành đoành”
đi sau ngững giây chớp sáng quang đã tha cho nó,chỉ đánh xuống những
nơi ở tận đầu xa.
Nó cứ đứng thế,mặt đất sũng nước đã ngập cả một bên chân nó tưởng
chừng như mưa không bao giờ tạnh được.Nhưng độ một vài giờ sau thì
hết cơn mưa.
Hai Xuân bấy giờ đã nhọc lắm, đến chân tay cũng không buồn cử
động nữa.Rồi cái đói giúp cái nhọc nó chẳng còn bận tâm lo nghĩ chuyện
gì,nó đổi chỗ đứng,một tay vòng nạng,một tay kê sau gáy để đỡ lấy
đầu,nó cứ việc tựa lưng vào gốn nhãn,chống tay vào nạng gỗ mà đánh
một giấc ngủ rất say sưa,cái giác nguy hiểm của những nguời bụng đói
như cào,có khi ngủ không dậy nữa.
Nó cứ đứng thế mà ngủ được mãi đến khi trời tang tảng sáng;mãi đến
khi có một đàn kiến bị nước phá tổ nhung nhúc bò ra,một vài con đỏ như
lửa mà to như hột thóc bò lên bàn chân thịt của nó,cong đuôi đốt nó,nhoi
nhói như kim châm.Hai Xuân bấy giờ mới vùng thức dậy,dụi mắt,rũ kiến
rồi ngơ ngác nhìn cũng hơi ngạc nhiên vì mình đã ngủ,trời tuy đã sáng
nhưng chung quanh nó,nó chẳng nom được rỏ vật gì,nó chỉ thấy một
mầu trắng toát,một bức màn sương,nhưng vì nghĩ ngay đến chuyện về
nhà,nó cũng cầm lấy nạng.
Trên đường đê lầm lội mà trơn hơn rêu bám,thằng Hai lủi thủi chống
nạng về nhà, đi giữa cái “đám rước”những cốc và giun,những con nòng
nọc mới đứt đuôi lăn tăng nhảy trước mặt nó và những con giun đen xì
xì,to như cái đũa ngọ nguậy bò dọc bò ngang,vẽ trên đường đi những vết
dài dài.Thằng Hai cứ việc bước đi,lội lõm bõm mà đi.
Về đến gần nhà,nó dừng chân lại đứng ngẫm nghĩ.Chắc hẳn bây giờ
thể nào anh Cả nó cũng ra ga rồi,trời chưa sáng rõ là vì có sương,nó vào
bây giờ chỉ còn việc là lạy từ cha mẹ.Nó đến cửa,khẽ gõ mấy cái vào
phên thì cửa mở ngay.Mẹ nó có vẻ ngạc nhiên hỏi nó:
-Mày ngủ đâu về thế con?
-Dạ,tôi ngủ đằng nhà anh Xã.
-Thế à... Thế đã cơm nước rồi đấy chứ?
-Ðã,anh ấy gọi tôi đánh chén vì hôm qua,anh ấy phát tài to.
-Sao quần áo mày ướt đầm cả thế kia?
-Nhà giột
-Sao tối hôm qua mày không về?
-Có,tôi có về.Anh Cả nói với thày u những gì tôi đã biết hết...Tôi
thấy thế nên tôi lại đi...thế anh ấy đi làm chưa u?
-Nó đi rồi...vào,con...!
Theo sau tiếng thở dài của mẹ,nó bước chân vào, ố! này lại...bố nó
vẫn ngồi một chỗ như đêm hôm trước.
-Thầy đã dậy làm gì thế?
-Ðã ngủ đâu mà dậy? Đêm qua có ai ngủ đâu?
Rồi bố nó cũng thở dài như mẹ nó.Hai Xuân bấy giờ mới định nói
thật,có nói vì thấy ấp úng,khó khăn chẳng khác gì một đứa trẻ con bập
bẹ:
-Thầy u ạ,tối hôm qua,anh ấy nói với tôi những gì,tôi đã biết cả.Tôi
về bây giờ là để lấy mớ quần áo cũ và cái thẻ của tôi để tôi đi đây...tôi
phải đi chứ tôi ở nhà thế nào được?
Rồi nó đứng cúi mặt nhìn xuống đất,trong lòng thật đau đớn,cố cầm
lấy nước mắt lúc đó đã thấy chạy quanh.Mổi phút im lặng mà tưởng như
rất lâu,bố mẹ nó vẫn không đáp nó,nó chỉ nhận được hai tiếng thở dài áo
não vô cùng.Hai Xuân nói tiếp:
-Tôi cũng biết...thế này là phiền não cho thầy u lắm...thầy u chẳng
nỡ,thầy u vẫn có bụng thương tôi,nhưng khốn nổi là nếu ở nhà,tôi không
làm gì kiếm ăn được...Thầy u có nuôi được tôi đâu?tôi không đi cũng
không xong mà...!
Mẹ nó vẫn đứng ngây người như một khúc gỗ,nó phải giục:
-Kìa u! u lấy đi cho tôi... Để tôi đi cho sớm sủa.Tôi đi thế này tôi
cũng khổ lòng lắm,nhưng thôi,thầy u cũng chứ lo phiền,rồi dăm ba ngày
một lần,tôi sẽ về thăm thầy u,thầy u không sợ.
Mẹ nó bấy giờ đưa cho nó một gói nhỏ trong cái khăn bọc ngoài đã
bạc phơ,bảo nó:
-Cả mấy cái quần áo cũ và cái thẻ u gói kín trong này đây, đừng bỏ
mất đâu mà khốn.
Nó đỡ lấy gói,lần đến một góc nhà với một cái nón rách xuống, đội
vào đầu:
-Thôi,thầy u ở lại,tôi đi đây...tôi đi rồi tôi về luôn, đừng nói gì cho
anh ấy biết.
Ông cụ ấy vẫn không đáp nó,chỉ nằm xuống giường để tay lên
trán.Hai Xuân vừa bước chân ra khỏi nhà đã thấy bên trong bố khóc lên
hậm hực.Nó đau lòng quá đỗi,mẹ nó cũng theo nó bước ra,nắm chặt lấy
nó như chẳng nỡ dời tay.Nó giương to con mắt nhìn cái mặt răn reo, đau
đớn mà thân yêu ấy một lần cuối cùng,nhìn túp lều tranh âu sầu, ủ
dột,l&uc đó cũng đang thanh thót rỏ lụy,rồi khẻ bảo mẹ:
-U buông con ra buông con ra cho con đi...
Bà cụ đờ đẫn buông tay,ngơ ngẩn nhìn con,mi mắt và mồm như bị
một cái gân tai ác giật lấy giật để.Rồi bà cụ đưa ngang cánh tay lên
mặt.Hai Xuân tần ngần đứng đấy,trông mẹ khóc mà cảm động
quá,thương quá nhưng sau ý chừng cũng biết rằng đem nước mắt mà
chống với cuộc đời thật chẳng lợi gì,nó dằn lòng quay mình,mắt đăm
đăm nhìn xuống đất,mặt có vẻ dữ tợn đáng ghét,nó rảo cẳng bước
đi,bước thẳng đi một mạch.
Bà cụ mẹ nó,vẫn tay bưng lấy mặt,rung động hai vai,mãi đến lúc con
đã đi xa mới mỡ mắt ra nhìn.
-Hai ơi!... Ời Xuân ơi!...Xuân ơi...
Không biết bụng nghĩ ra sao mà bà cụ ấy gọi con rối rít,nhưng vì đã
đi xa lắm,nó không nghe tiếng,cứ việc cắm cổ mà đi.Rồi thấy bà cụ ấy
chạy theo con,vẫn ra sức gọi
Thương thay! mái tóc hoa râm đã điểm 60 tuổi trên đầu mà bà cụ ấy
vẫn chưa biết mình thân già tuổi yếu,ton ton chạy được vài mươi bước
thì chổ mặt đê trơn như đổ mỡ đã làm bà cụ té nhào lắm lét từ dầu đến
chân,nằm trong vũng nước đầy vừa run vừa khóc.Bà cụ ấy ngã đau, đau
lắm nhưng cũng cố gượng chống tay nghểng cổ mà nhìn,nhìn đến đứa
con thân yêu kia,nhìn đến thằng Hai lúc ấy chỉ còn như một cái chấm
trông thẳng về Cầu Sắt Hà nỘi mà đi,dần dần biến mình vào đám sương
mù...
Juillet 1931
VŨ TRỌNG PHỤNG
Một cái chết (1931)
Bẩy giờ tối.
Hai chúng tôi, cơm chiều xong, vừa định thắng bộ vào dạo chơi
loanh quanh mấy phố thì trời bỗng đổ cơn mưa như trút.
Phải bó cẳng ngồi nhà cặm cụi với mấy tờ báo, chúng tôi xem đã uể
oải, mắt đã thấy mờ thì cửa vẫn khép chặt, bỗng có người đẩy đánh xầm
một cái tung ra.
Giật mình, chúng tôi ngơ ngác nhìn lên thì một ông lão ăn mày vừa
lòa vừa cụt chân, người quắt như con mắm nướng, áo tơi, nón lá, chống
nạng lê vào.
- Lạy ông, lạy bà... Bố thí cho con đồng cơm bát cháo trong lúc khốn
cùng...
- Không sẵn! Đi đi!!! Cửa nhà người ta khép thế mà cũng đẩy ra
được...
Đã bực mình sẵn, lại thấy ông lão xông xáo quá đáng thế, tôi không
chút thương mà gắt rầm lên. Bạn tôi vội xua tay ngăn lại, đứng dậy, ra ân
cần để vào tay ông lão một xu. Ông lão cúi rạp xuống đất tạ ơn rồi lủi
thủi bước ra, để lại chỗ đứng một vũng nước dây ở cái áo tơi trút xuống.
Bạn tôi cài then cửa rồi vào:
- Không bao giờ tôi nỡ đuổi một người ăn mày như anh đã đuổi.
Tôi mỉm cười một cách nhạo báng. Bạn tôi xưa nay vẫn hay giảng
đạo đức, thuyết luân lý.
- Anh đừng tưởng chuyện đùa. Những chuyện rất thường mà đối với
người ngoài cuộc, lắm khi có ảnh hưởng lại rất sâu xa. Một người ăn
mày đến kè nhè bên ngoài. Người trong nhà chạy ra mắng đuổi hắt đi rồi
đóng cửa đánh xầm một tiếng. Tưởng chẳng có chuyện gì bình thường
hơn thế nữa. Thế mà cũng chỉ vì một chuyện đuổi ăn mày mà chính tôi
đây, tôi đã được mục kích một tấn kịch rất đỗi bi thương.
Nói đến đó, bạn tôi ngồi xuống ghế, vớ lấy bao thuốc lá lấy ra một
điếu đánh...
Mấy hôm nay,thằng Hai Xuân xem ra có ý lo buồn lắm.Phải, ở vào
cái cảnh như nó bây giờ,thì đến ai mà chả đâm lo;bảo nó không buồn sao
được?
Từ ngày mọi người còn thấy nó cầm đôi tay xe chạy trên đường đê
Gia Quất thì thằng Hai vẫn là người vui tính nhất làng.Vào những buổi
chiều mùa hạ sáo diều vo vo réo rắt hay buổi chiều mùa thu gió vàng hắt
hiu,trong những cảnh hoàng hôn của tiết xuân mát mẻ hay của trời đông
lạnh lùng;mỗi khi hình thằng Hai tay vòng càng đi trước cái xe,vẽ cái
bóng thật dài trên giải đường trắng xoá,thì tận trong làng xa lắc xa lơ
cũng có người nghe thấy nó cất giọng ồ ồ,nghêu ngao hát cái bài “xẩm”
của nó tuy cụt đầu cụt đuôi thật,nhưng nghe nó cũng hay hay: ...Còn trời
(mà )còn nước,còn non...
Còn cô (mà ) còn cô bán rượu,( ý y )anh (a ) còn (thì )say sưa...(chừ
này mình ơi... Ý y ỳ ý y tang tình tính tang...!!! )
Thật vậy! cái đoạn đời ấy tuy trước mắt bọn giàu chỉ là cái đời khốn
nạn của con “ngựa người” ngày ngày “dang”chân trên mạt đường rải
nhựa khi lửa hạ chang chang,hay bì bõm trên giải đê trơn mỡ đổ khi mưa
phùn gió bấc...mà đối với thằng Hai,nó vẫn cho là vui vẻ lắm...
Nó được vui vẻ nhất là sau khi,trước cái mái trnh lụp xụp nó đặt
“phịch” càng xe,rảo cẳng chạy vào sân, đến chỉnh nước ngửa cổ “tu” một
hơi nước lã thật dài xong thở đánh “hà à à”một cái rất khoái trí rồi cầm
mảnh mo vừa quạt vừa bước vào nhà ngơ ngác nhìn xem bố mẹ đã thổi
chín cơm chưa, để liệu dọn mâm bát,không thì giốc nẹp áo lấy ra một
nắm đầy bàn tay những mảnh tròn tròn bằng đủ thứ:thau, đồng,kền,bạc
vừa hào vừa xu đưa cho mẹ mà rằng: “U mua vào đây cho tôi vài xu
diêm thuốc”.
Mâm cơm dọn xong,nó chỉ còn chờ anh Cả cho nó đi làm về là cùng
ngồi vào,tuy bữa nào cũng chẳng hơn gì bữa nào,chỉ rặt cà,tương,dưa
muối mà thằng Xuân ăn thấy ngon.Nó ăn được ngon là vì nó đã kéo xe
nhọc mệt cả ngày,là vì không những nó đã chẳng phải ăn nhờ ai mà lại
còn nuôi được bố được mẹ, đỡ anh,anh nó,một người phu kíp ở ga Gia
Lâm,mỗi tháng kiếm không đầy chục bạc.
Khốn nạn thay cho thằng Hai Xuân! Bây giờ khác hẳn xưa rồi... Đến
cái nghề kéo xe kể đã là cùng cực mà nó cũng không đang nổi nữa vì
người ta đã cướp cơm của nó,một cái xe hơi đã vồ phải nó, đánh gẫy của
nó mất một bên chân,rồi vào nhà thương,người ta đền cho nó một cái
khác bằng gỗ để mặc nó lộc cộc chống nạn về nhà...
Bay giờ nó đành phải ăn nhờ vào anh,mà từ khi nó được cái chân gỗ
thì những bữa rau cháo buổi xưa cũng ra điều chểnh mảng,không được
đúng hẹn nữa.Không đầy chục bạc mà bốn miệng ăn...! lại tiền thuê nhà,
ấy là chưa kể đến những món vặt khác như áo,quần củi lửa...tuy không
để đem chôn vào bụng mà cũng cần như hạt muối,hạt gạo,gia đình nhà
nó sống trong một cảnh túng bấn cực kỳ,chỉ hơn được ăn mày một nước
là không phải ngửa tay xin lấy của ai.Gạo đỏ còn phải ăn kém hơn ngô
khoai nên bố mẹ nó,tuy trên đầu tóc đã pha mùi,hàm răng chiếc đã lung
lay,chiếc rụng mặc dầu,cũng đành bưng đến bát cơm ngô,cơm khoai
mà...khốn thay! vẫn thiếu...! Ðã nhiều lần bố mẹ thằng Hai và nó phải
bấm bụng nhịn đi để anh Cả nó về được ăn no đủ - vì là người kiếm ra
tiền – anh nó chẳng phải tay vừa,nếu để thiếu cơm thì nó sẽ thấy ngay
anh nó mắng bố,gắt mẹ,chửi nồi,chửi rế,chửi đôi guốc đang đi mà đứt
quai,chửi xó nhà lắm muỗi vo vo...
Thằng Xuân mấy hôm nay xem ra có ý lo buồn lắm
Một buổi chiều hè kia,sau khi chống nạn lang thang đi khắp đó đây từ độ nó què,không có việc gì nó vẫn lang thang như thế - thằng Hai lên
cầu ngồi hóng mát.Lúc ấy có lẽ đến 6 giờ rồi,bụng nó đã thấy đói như
cào mà nó vẫn chưa dám tưởng đến sự về nhà vì nó chắc thế nào anh nó
cũng cau cau nét mặt nhìn nó ra ý bất bình hay hỏi căn vặn nó bằng
những câu chẳng được nhẹ nhàng như khi nó chửa cụt cẳng.Nó đói lắm
nhưng nó vẫn cố gượng cho khuây,ngồi nép vào sát với thành cầu,nó
lẳng lặng trông mây,trông nước.
Mặt trời đỏ hỏn như một hòn than tròn đã từ từ rẽ những đám mây
chồng chất lên nhau mà lặn xuống chân trời,trước mắt nó,giẫy núi Tản
Viên ba chòm xanh biếc,mập mờ trong đám sương nhoà dưới chân điểm
ngang một nét xanh xanh biết bao làng mạc, đứng sừng sững như một
bức trường thành trên mặt nước đỏ ngầu.Sông Nhị bấy giờ đang ào ào
đập bọt vào mấy chân cầu,dữ dội mà hung hăng như một người điên bị ai
trêu ghẹo.Trông về đằng đông,lại dòng nước Nhị Hà,dài rộng mênh
mang,hai bên bờ xa nhau mờ mịt,mấy cánh buồm căng thẳng,xa lơ xa
lắc,sxa đến nổi tuy con thuyền đang chạy băng băng mà trông vẫn phải
tưởng như không,như chỉ cắm sào một chỗ.
Thành phố Hà Nội,phơi mình dưới một tầng mây dài dằng dặc mà đỏ
ối như thể đám lửa hung hăng,phô lên những rặng mái nhà chi chít nhấp
nhô,mảng đen mảng đỏ,rồi,nhoi lên cao hơn hết thảy,này ngọn cột cờ và
ống khói sở Máy tơ tiêu điều vì không đắc dụng,này đôi trụ nhà Thớ
chính đưa ra những hồi chuông văng vẳng chiều hôm,này mấy cột vô
tuyến điện làng Vọng mập mờ mà cao ngất,lênh khênh như muốn chọc
trời.
Trên cầu lúc ấy không thấy bọn người áo quần lam lũ,gồng gánh qua
lại nữa.Cái giờ ấy là cái giờ đuổi bọn người kém phúc này tất tả về
nhà,chúi đầu vào bếp vần nồi cơm gạo đỏ bưng lên xới cho một ông bố
hay một bà mẹ mù loà hoặc ôm vội lấy đứa con gầy ngẳng,từ sáng chưa
trông thấy mặt mẹ,nhét cái vú mướp vào miệng nó mà cất giọng: “à
ơi...”,rủ nhau náu mình dưới những mái tranh lụp xụp cho khỏi làm bẩn
mắ bọn tỉnh thành,bọn giàu hay có cái vẻ giàu bấy giờ đã nghênh
ngang,lũ lượt,kéo nhau lên hóng mát.
NHững đoàn xe hơi bệ vệ mà không lịch sự,nối đuôi nhau,tiếng còi
inh ỏi,sang sang,về về,dồn các bác phu xe ngửa ngực kéo,hớt hơ hớt hải
chạy vào những chỗ tránh của họ,hình ảnh cái mãnh lực tuyệt đối của cơ
khí bao giờ cũng chỉ lợi riêng cho một bọn.
Thấy vẽ rỏ ra trước mắt nó cái cảnh phồn thịnh nhường kia,Hai Xuân
tuy là một thằng què,một thằng chân gỗ thật mà vẫn có lòng quảng đại
nhìn đời bằng con mắt lạc quan,chẳng vì thấy mình tàng tật kém người
mà thù hằn oán ghét họ.
Một cặp uyên ương người vận tây,người quần trắng áo lam thung
dung lướt qua mắt nó.
Nó ngẩn người ra! Chưa bao giờ nó được trông thấy cô nào xinh đẹp
đến thế.Nhất là cái mũ nhung đang quay vòng tròn trên hai ngón tay cái
với đôi hoa kim cương lóng lánh với làn tóc mây phất phơ bên đôi má
mơn mởn cô làm nó phải lõ mắt nhìn. “Hai vợ chồng nhà nầy hẳn sướng
hơn người!...” lần thần nó nghĩ.
Người dạo chơi trên cầu dần dần càng đông, đôn gnhư thể rủ nhau
trảy hội.Theo sau cặp trai gái xinh đẹp ấy,một ông béo phục phà phục
phịch,hai bên má chảy xệ xuống như má lợn xề,hình như trời xinh ra chỉ
để nhai toàn những của ngon vật lạ nên cái bụng nghênh ngang trên bộ
giò chữ bát chẳng đủ sức khiêng ông,bắt cái đầu và cái ngực phải dồn cả
lại đằng sau. Ông bày bụng ra một cách vênh váo,bệ vệ đi trước để theo
sau,một bà gầy nhẳng cao lênh khênh,mình lép như bồ kếp,một cái mái
đẻ sắp đến hồi phế thải.Hai Xuân cứ bịt mồm nhịn cười chẳng được vì
nó nghĩ ngay đến một miếng đồng dần dần tất phải dài ra nếu bị một cái
búa nặng bên trên cứ ngày ngày nện xuống.
Rồi đến những cậu đầu trần,tóc mượt nhẹ nhàng cưỡi trên những con
“ngựa sắt” sáng choang hay phong phanh trong những bộ áo lót mình kẻ
dọc kẻ ngang sặc sỡ,rồi đến các con nhởn nhơ trong những bộ “cánh cào
cào”vàng, đỏ,tím,lam,rồi có cả một vài cụ già quần lụa áo sa,tay quạt,mắt
kính,ung dung dạo gót nhìn non nước mà chẳng buồn nhìn đến bọn trẻ
ranh.
Thằng Hai trông đám người ấy chẳng bằng con mắt ác cảm.Nó rất
ước ao được có ngày thảnh thơi như họ,nó coi họ như hạn người đã được
trời thương,mà trời đã thương ai, đã ban hạnh phúc cho ai thì người ấy
đã đành là xứng đáng.
Còn nó nghèo,nó khổ,nó đổ là tại số.Tại số? Phải,những bộ óc rắn
đặc như óc nó thì bao giờ lý hội sự đời cũng chỉ thấy toàn số,mệnh.Nó
không biết rằng bố mẹ nó đã bị xã hội hắt hủi vào cái cấp hạ lưu đê tiện
thì không còn mong gì ngoi ngóp được lên, đã không ngoi ngóp được
lên,thì tiền đâu nuôi nó,cho nó học hành,mà nó chẳng phải cầm đến cái
tay xe? Ðã cầm đến bộ tay xe,không những nó phải ra sức kéo người có
tiền cỡi nó,nó còn phải đem mảnh thân cát bụi của nó ra chiế đấu với tạo
vật,với những tia mắt mặt trời dữ dội chiếu xuống đốt lưng đốt gáy
nó,với những trận mưa trận gió phũ phàng ném những hạt nước nặng nề
thẳng vào mặt nó,thổi tung cát bụi lên làm tối mắt nó hay đưa lạng cả xe
nó kéo về đằng sau,làm tròng trành sang bên phải,bên trái,tròng trành
như một chiếc thuyền.Nào đã hết đâu!...Thắng được tạo vật rồi,nó còn lại
phải chiến đấu nữa,chiến đấu với cơ khí,chiến đấu để nuôi thân.Những
ông đại tư bản,giàu có hàng triệu,có thể nuôi nổi không biết cơ man nào
hạng người như nó,cũng cạnh tranh với nó.Rồi các ông ấy mang ra
đường sắt những đoàn xe lửa hùng hổ để chạy thi với anh cu li bé nhỏ
yếu ớt kia.Những ông tiểu tư bản cũng chẳng tha nó nào,cũng lại cướp
cơm của nó.Mỗi khi nó khom lưng kéo chiếc xe tay thì những tiếng còi
inh ỏilàm lọan óc nó,những chiếc xe hơi máy chạy vo vo phun khói mù
trời,dồn nó,hắt nó vào một bên đường để tranh lên bước trước.
Mặt trời vẫn “tưới” trên lưng nó một lớp mồ hôi,khúc đường tráng
nhựa chang chang không một bóng cây vẫn ở dưới châm kim lên hai bàn
chân nó,hỏa trong mình nó bắt lên hai mắt đỏ ngầu,cát bụi bốc lên làm
nó tối xẩm mắt lại, đoàn xe hơi vẫn sùng sục đuổi nhau,rồi không biết
thế nào,một chiếc vồ phải nó,hắt người khách của nó vào một góc
đường,hắt nó té nhào xuống đấy.
Khi nó mỡ mắt ra thì nó thấy nó đã được nằm trong một gian buồng
nhà thương Hà Nội.Bố mẹ nó ngồi cả bên giường,tay bưng lên mặt mà
khóc tỉ tê; quan đốc tờ bảo nó đến phải cưa chân.
Nó ngơ ngác nhìn hết mọi người rồi hỏi họ rằng:nó được người ta
đền cho bao nhiêu tất cả?Người ta chỉ nhìn nó mà cười một cách chế
nhạo rồi bảo rằng người ta đền cho nó một cái chân gỗ,chỉ một cái chân
gỗ và một cái nạn thôi,nó đã đi trái luật.Trái luật ư? Không,quyết là
không,chẳng khi nào nó đi trái luật bao giờ,nó còn nhớ rõ,quả thật hôm
ấy nó vẫn đi bên tay phải.
Vẫn đi bên tay phải ư?... Ðối vớ hạng người như nó,họ chỉ cần đáp
lại một câu:mặc kệ! – Thân nó từ đấy què cụt,ai nuôi? -Mặc kệ! - Bố mẹ
nó già lão thế kia rồi sẽ ra sao? - Mặc kệ!...Họ mặc kệ hết thẩy,nó chỉ
đành từ đấy lê cái chân gỗ suốt đời,vì chẳng ai đã làm chứng cho nó
trong lúc tai nạn xảy ra nó vẫn đi bên phải.
Trên cầu người dạo chơi bóng mát lại càng đông thêm.Thỉnh
thoảng,một cặp trai gái lướt qua mặt nó, để lại cho nó một ít hương thơm
thoang thoảng.Nó bỡ ngỡ đưa hai con mắt nhìn hết người,mà ồ nầy! chả
ai buồn nhìn đến nó,nó chỉ là một thằng què cụt,rách rưới,khốn nạn,ai
nhìn đến nó làm gì...!
Thằng què! thằng què lòng tự nhủ lòng,Hai Xuân rầu rầu nét mặt
nhìn xuống cái chân gỗ...Những người chung xóm nó,những anh em
đồng ngiệp nó ít lâu nay đã cải tên của nó, đã gọi nó là thằng Hai
Què.Thằng què! ôi đau đớn!...
Mặt trời lúc ấy đã lặn hẳn,nhường cho những ngôi sao lăn tăn lấp
lánh trên khoảng không trung.Dẫy đèn điện trên cầu,trong một cái chớp
mắt, đã rủ nhau bật đều lên cả,ló ra những đám lửa đỏ hung hung có vẻ
buồn rầu và kèm cho mỗi người dạo mát một cái bóng hiện trên những
thửa gỗ lim,nó lặng im,bé lại hay dài ra tùy ở con người đứng trên một
chỗ hay đi đi lại lại.
Trông về Hà Nội,dưới tầng mây bạc lộn vẩy tê tê,thành phố tung lên
một giải hào quang sáng lòa cả mắt mà kéo dài một mạch từ ô Yên Phụ
đến tận Lò Lợn giáp với Thanh Trì,dẫy đèn điện bờ sông ra công “phá
tối” sáng quắc và thẳng băng như chuỗi hạt kim cương.
Cảnh vật đều vui,nhưng Hai Xuân chỉ là một thằng què cụt...!
Nó buồn,buồn lắm!
Rồi nó bỗng thấy nó rất đáng hổ thẹn trong đám đông người ấy,hổ
thẹn như một con vật ghẻ lở trốn vào đâu cũng bị hắt hủi đuổi ra.
Nó không dám nhìn họ nữa,quay mặt vào thành cầu,nó tựa cằm vào
một thanh sắt mà nhìn xuống nước,nhìn những ngọn đèn điện từ trên ánh
xuống bị dòng nước l-oi cuốn đi làm tan nát ra như muôn nghìn mảnh
kính,như muốn trôi đi mà lại như muốn đọng đấy,lửng lơ một chỗ,lạ mắt
vô cùng.Rồi nó vẳng nghe thấy dưới nó tiếng chèo bì bõm,tiếng trẻ khóc
oa oa,tiếng cái điếu cày có người rít một hơi sòng sọc.
Nó cố định thần nhìn xuống;một chiếc tưyền từ từ ở gầm cầu chui
ra,lù lù mà bí mật như một con quái vật nó thường gặp ta trong những
đêm trằn trọc có chiêm bao ghê gớm vậy.
Từ khoang thuyền chiếu ra ánh sáng hiu hắt một ngọn đèn con để
thằng Hai thoáng nhìn thấy bóng một người đàn bà cầm chèo ngả
nghiêng đằng mũi,ngả nghiêng một cách rất táo bạo như có lúc muốn lăn
tòm xuống nước,táo bạo như bóng một con ma đen.
Chiếc thuyền cứ đủng đỉnh mà đi để lại mặt nước chỗ sóng sôi cuồn
cuộn,bọt trắng ngầu ngầu,chỗ xô nhau,xoáy nhau,tròn như một cơn gió
lốc,chỗ lăn tăn vẩy cá và chỗ phẳng lặng lạ lùng,phẳng lặng mà bì bì
đóng váng như một bát nước cơm.
-“Chà! sung sướng biết bao! nếu mình lềnh bềnh trôi trên làn sóng
ấy!...
Thằng Hai chợt nghĩ thế,nghĩ đến cách tự tử ấy một cách âm
thầm.Nó sống mà làm gì nữa?...nó chết đi là phải,rất phải,np& chẳng còn
nên tiếc gì đời,cái đời què cụt không kế sinh nhai.Rồi nó khỏi phải đau
lòng trông thấy những tấn tuồng “con mắng mẹ vì thiếu cơm ăn”mà rồi
đâu anh nó lại đem diễnra trước mắt nó,nó sẽ khỏi phải trông thấy cái
cảnh tượng bố nó mẹ nó vêu vao nét mặt,ngồi mỗi người một xó mà nhỏ
lệ đầm đìa. Ðược lìa đời,nó sẽ thoát khỏi mọi điều đau khổ.Cái đời nó
nay xoay ra đến thế là tuyệt vô hy vọng,trời không thương nó nữa vì xưa
nay nó chỉ mong có lấy được một bộ chân khỏe mạnh để kéo cái xe tay,
để nuôi thân và nuôi cha mẹ mà thôi. Ông trời ngày nay bắt nó què
cụt,nó còn sống nữa làm gì?...Nó đã đau khổ lắm...Vì đâu nó đến nõi
phải liều thân như vậy?Chao ôi! nếu nó vẫn có đủ cả hai chân như mọi
người!...
Hai Xuân mệt quá,mệt lả người đi,thiếp mất đi.
Nhưng một sức mạnh vô hình đã đến bao phủ lấy nó,lay nó dậy,dựng
nó đứng lên,giục nó trông trước nhìn sau chẳng thấy ai đứng đấy thì trèo
lên thành cầu, đăm đăm nhìn xuống nước.Chỉ trong một vài giây đồng hồ
nó cũng đủ thấy rợn,nó nhấm nghiền mắt lại,liều buông tay ra. Ðánh
bõm một cái thân nó đã bị làn sóng cuồn cuộn xuống,nước lạnh ùa vào
tai,vào mắt,vào mũi,vào mồm nó,nó như ngây như dại,nhưn gnó vẫn
thấy hình như trên cầu có tiếng người rộn rịp chạy,tiếng kêu tiếng thét
lào xào,họ túm cả vào một chỗ mà chỉ chỏ cho nhau,thảy đều sửng
sốt,những con mắt long sòng sọc xiên qua quãng tôi tìm tòi xác nó,lại
văng vẳng có tiếng người kêu...
Hồ ồ ồ ồ ồ ồ ha a a a a a!...
Một tiếng còi đinh tai làm Hai Xuân giật mình đánh thót một cái.
Nó bàng hoàng cả người,chớp mắt luôn mấy cái rồi định thần nhìn kỷ
mới biết nó vẫn ngồi gục đầu xuống đấy mà ngủ quên đi mất tự bao
giờ,nước dãi nó đã chẩy ra đầy một bên má nó.Như một vòng trong đèn
cù,những người hóng mát vẫn ung dung lướt qua mặt nó, đến bấy giờ họ
mới dừng chân cả lại đứng chờ xem một chuyến tầu về...
Sình sình sình sình! sình sình sình sình!...cả cầu chuyển động,trên
đường sắt hiện ra trong đám tối hai con mắt lửa đỏ ngầu,một cái miệng
phun khói ra đen nghịt,rồi như một trận cuồng phong,cái đống sắt đen lù
lù ghê gớm ấy phăng phăng trôi qua mắt nó,kéo một dẫy dài đến mười
cái toa những người đông nghịt,họ đứng lố nhố mà nghênh ngáo nhìn
quanh.
THằng Hai đực mặt ra trông chuyến tầu ấy nó đi đến đâ làm rung
chuyển đến đấy như một trận động đất dữ dội,nó làm nhấp nháy muốn tắt
cả hai dãy đèn điện trên cầu mãi đến lúc nó đã đi xa,chỉ để lại cho mọi
người một ngọn lửa đỏ tù mù ở sau toa cuối cùng nó dần dần biến mất đi
trong đám tối...
Không,Hai Xuân chưa chết.Nó hãy còn trơ trơ ngồi đó,nó chưa ném
mình xuống nước bao giờ;Nó nghĩ đến cái chết dại dột kia mà chợt rùng
mình,rùng mình lạnh toát cả người như trong một cơn(...)thấy muốn
đứng dậy lần về nhà nhìn mặt bố mẹ nó,nhìn mặt anh nódẫu rằng anh
nó,nó cũng bằng lòng.Rồi nó cầm lấy nạng.
Bỗng nó thấy đói lắm, đói đến nổi không đứng lên được nữa, đói quá
đi mất.Nó lại thấy lâm râm hơi đau bụng mà chân tay nó mỏi lả đi như
đã mất hết cả gân.Nhưng biết làm thế nào?nó chỉ đành cố sức đứng
lên,chống nạng mà đi,cái nạng gỗ rắn quá,cứ đâm nhoi nhói vào chỗ
xương nách nó chửa quen dùng,làm đau chết điếng người đi được.
Ði hết cầu,xuống đường đê thì trời tối đen như mực.Nó cứ nghe tiếng
mấy người đàn bà đi trước nó mà lần theo họ,theo mãi đi đến nữa
giờ.Rồi nó dừng chân trước một mái gianh,một cái lều tồi tàn, đổ
nát,rách rưới ở ngay đầu xóm,bên trong có ngọn lửa to bằng hạt đậu, ánh
sáng tiêu điều lách qua phên cửa chiếu ra.Nó chưa dám vào ngay,nó còn
lẳng lặng nghe xem sao đã.
Thốt nhiên như có một cơn gió buốt xiên vào tai,vào gáy thằng Hai
làm nó rét lạnh cả người,từ đầu đến chân run như cầy sấy,rõ ràng như có
tiếng mẹ nó,người mẹ rất thân yêu của nó sụt sùi,như muốn khóc mà như
cố nín,cố nín vì phải sợ ai.Nó rón rén tiến gần đến cửa,vén cái mành
mành rách lên,nhịn thở nhìn vào. Ôi! một cảnh buồn!...buồn chết người
đi được!...
Bố nó,một ông lão ngót 60 tuổi,cởi trần,gầy gò như một bộ
xương,ngồi một góc phản,hai tay để trên hai đầu gối, đầu cúi về đằng
trước,ngây người ra như một cái tượng.Mẹ nó ngồi sệp dưới đất,gục mặt
xuống đầu gối,hai tay ôm chân,còn anh Cả nó thì nằm thẳng cẳng trên
giường,chốc chốc lại dằn vặt chân tay như đang có chuyện gì làm bực
tức đến cực điểm.Mẹ nó vẫn tỉ tê khóc lóc,chợt anh nó ngồi vùng dậy
như bị một cái lò xo sai khiến rồi đập tay xuống bàn đánh “bộp”một cái
mà quát:
-Bà thương nó phải không?Bà cũng phải biết mới được chớ!Nó có là
bố tôi đâu?Bà còn tỉ tê nổi gì?
Hai Xuân đứng ngoài tái mặt đi.Vì nó,anh nó đã sinh chuyện với bố
mẹ rồi.Nhưng nó vẫn phải lẳng lặng đứng nghe,bố nó vẫn ngồi
yên,chẳng nói chẳng rằng,mẹ nó vẫn sụt sùi,tay bưng lấy mặt.Anh nó
lườm mẹ nó một cách trông rất khả ố rồi lại nằm vật xuống giường,thở
dài một cái ra chiều rất chán nản.Sau một lát,anh nó lại xấn xổ nói:
-Này tôi bảo thật,lần này là lần cuối cùng đấy...nếu cái thằng mặt chó
ấy nó vác xác về đây thì cả ông cả bà liệu mà bảo nó đi đâu thì đi...biết
chưa? Ông bà đã nghe chưa?...tôi chỉ có một bố thôi nhé!...Năm nay tôi
ngót ba mươi tuổi đầu rồi mà chưa có vợ con gì cả,vẫn cô độc cô quả thế
này là vì những ai?... Ông bà có biết không?Nếu bà thương nó thì bà đi
ngay đi...có gì ghói ghém ngay lại mà đi theo nó... Đi ăn mày với
nó...Rồi lại chả lo được ăn mày cả lũ cho mà xem à?...nay mai nhà máy
loại người thì biết ngay chứ khó gì...!
Mẹ nó đến bây giờ mới hậm hực nói:
-...Thì rồi tao bảo nó,việc gì mày phải vội mắng tao...?mày không
nuôi nó nữa thì thôi mà... Để tao bảo nó mà... Để tao đuổi nó đi mà...tao
vẫn bảo.
Anh nó lần này quát lại to hơn trước:
-Vẫn bảo à?vẫn bảo mà để mấy tháng nữa?sao không bảo ngay đi có
được không?
Bố nó bấy giờ mới khẻ nói:
-Ở thì ở chứ mấy hôm nay nó có dám xin ăn xin uống gì đâu!
Anh nó ra ý tức đến cực điểm lại gắt:
-Thôi đi ông... Ông đừng vào hùa nữa...nó không ăn gì thì chó ăn à?
chó ăn cả đấy à...
Nghe đến đây,thằng Hai thấy trong mình sôi máu lên sùng sục.Nó
những muốn nhảy xổ ngay vào nhà,giơ nạng lên mà phang cho anh nó
luôn mấy cái,nhất là đến vỡ đầu sứt trán thì thôi.Nhưng anh nó bỗng lại
thấy ngồi nhỏm lên,vớ lấy cổ cái chai để trên bàn,nện xuống đánh
“thình” một cái rồi giơ chai như muốn xỉa xói vào mặt ông bố:
-Ðể tí nữa nó về đây xem! Tôi sẽ hỏi nó xem mấy hôm nay,nó không
ăn gì sao nó sống được...tôi sẽ đập cái chai này vào mặt nó xem nó có
phải nói thực không thì sẽ biết...muốn chối mà được à?
Hai Xuân rùng mình...Trống ngực nó bỗng thấy đập mạnh,hơi thở nó
bổng thấy hồng hộc,nó thở ra khò khè cả lổ mũi.Rồi nó sợ hải quá,sợ hải
quá đi mất,tưởng chừng như anh nó đã nghe thấy nó thở, đã biết là nó
đứng đấy nên nhẩy xổ ngay ra,cầm chai thẳng cánh dơ lên,toan đập vào
giữa trán nó.Nó vội dơ tay lên như muốn đỡ,chống nạng giật lùi mấy
bước rất kinh hãi,ngẩn ngơ như kẻ mất hồn,như đã bị một thương vào
trán thật.Trước túp lều tranh ấy,trong đám tối ấy,nó đứng ngây người ra
một lúc rất lâu.Rồi nó thấy ghê quá,sợ quá,không dám...(bản chụp mất
khoảng 10 từ)gót lủi thủi chống nạn bước đi,bước liều đi chẳng biết đi
đâu,trong lòng nửa buồn nửa tủi,phần thương bố mẹ,phần giận anh đau
đớn đến tê dại cả người,nó cứ lủi thủi bước đi,trốn tránh đi,buồn rầu như
một con chó cụp đuôi mà chạy vì có người đuồi theo ném đá.
Nó cứ lần mò trong tối,chống nạn mà đi,cứ đi thế mãi.Chợt nó đứng
dừng lại,ngạc nhiên lắm,rồi tự hỏi:ta định đi đâu bây giờ?...rồi nó đứng ỳ
ra đấy,chẳng biết nghĩ sao.Nhưng sau nó nhớ ngay đến một chỗ bờ đê
gần đấy có một cây nhãn rất to,dưới gốc mặt đất nhẵn lì vì ban
ngày,những trẻ chăn trâu vẫn họp nhau đánh đáo,cây cao bóng mát,có thể
hứa với nó được một giấc ngũ no say,không phải lo gì đến chuyện
rắn,rết.Nó lại trông thẳng mà bước chân đi,chưa được bao lâu đã thấy
hiện ngay ra trước mắt nó cái bóng nhãn lù lù mà nó đang mong mỏi.
Nó ném mình vào chỗ tối ghê tối gớm ấy,tay quờ quạng tìm một rễ
cây để gối đầu nằm kềnh xuống đất,vắt tay lên trán mà thở hồng hộc như
bò.
Chung quanh chỗ ấy,cánh đồng rộng thênh thang,lác đác vài nơi ngoi
lên những rặng tre lố nhố, đều đắm đuối trong một bức màn dày,lúc đó
càng thêm mù mịt vì những đám mây đen nghịt đã kéo đâu về,che lấp cả
các ngôi sao.
Những tiếng “ộp oạp” đưa lên inh ỏi,những tiếng chó sủa văng vẳng
lao xao,lại trên không,những đàn vạc ăn đêm thỉnh thoảng bay qua, đua
nhau kêu líu ta líu tíu.Một cơn gió mát lạnh, đượm những hơi mưa,thổi
điều hòa, đập rào rào vào vòm lá nhãn,khởi ra mùi bọ xít thoang thoảng
hôi nồng nặc.
Hai Xuân nằm lăn dưới gốc,chân tay uy đã mỏi như dần mà mắt vẫn
còn thao lắo nhìn đêm,cái đêm tối tăm, đau khổ,cái đêm không
giăng,không sao,cái đêm bí mật,nặng nề của những chuyện tự tử,quyên
sinh..
Thôi,từ đêm ấy trở đi,nó không còn mong gì bước chân về nhà
nữa,nó đành phải bỏ túp lều tranh rách rưới,tồi tàn mà rất thân yêu
ấy,bấy nay trong hai mươi mấy năm trời đã quây quần dưới mái nào
cha,nào mẹ,nào anh và nó, đã đếm qua những ngày giờ vui sướng cũng
như ngày giờ đau khổ, đã bao lần che chở cho nó được yên thân trong
những cơn vũ bão tưạ như lở đất long trời.Rồi đây,thân phận nó sẽ
nổi,chìm,rôi,giạt,lênh đênh như những cánh bèo mặt nước,như những
mảng bọt giữa sông,cái chân gỗ nặng nề đã phá tan trong óc nó mất mối
hy vọng đến những ngày no ấm, đã bầy ngây ra trước mắt nó cái đoạn
đời khốn nạn của người hành khất;lúc mưa cũng như lúc nắng, đến cửa
nhà nào cũng chỉ như để đợi nghe cái câu bất tử: “không sẳn!... Đi đi”.
Ðau lòng quá đổi,thằng Hai tay bưng lấy mặt,khóc lên rưng rức.Chợt
một cơn sấm động u ù làm nó sợ hãi đến bay hồn.Trên trời bấy giờ sấm
chớp đùng đùng,gió thổi lại càng thêm mạnh. “Chết nổi! mưa bây giờ thì
mình ra sao?...dễ thường số mình bị trời đánh chắc?”Nó vừa bâng
khuâng nghĩ thế thì đã thấy “lộp bộp” một vài hạt nước mưa to ném
xuống như mấy tiếng dạo trong một khúc đàn rồi,theo sau vài cơn gió
mạnh,bài âm nhạc sầm sập,rào rào chỉ những cơn gió thổi từng cơn,tiếng
nước tơi rả rích kéo dài cái điệu buồn buồn mà tẻ ngắt vì không thay
đổi,cái khúc âm nhạc rả rích “trời mưa”.
Thằng Hai phải vớ nạng đứng ngay lên,tìm cách náu mình,lom khom
ẩn dưới gốc cây.Thỉnh thoảng,một vài giọt nước rơi vào mặt,vào đầu,vào
gáy,vào lưng nó,làm nó rét run lên cầm cập mà dưới đất,những hạt mưa
lăn tăn bắn lên chân nó làm nó thấy ngứa ngáy khó chịu vô cùng.Nhưng
nó chỉ đành lom khom đứng yên một chỗ,lưng mõi rả rời,chốc chốc
ngoáp dài một cái rồi lại nhìn đến cơn mưa,cái cơn mưa trút nước của
những ngày hè uể oải,có dư sấm sét rất đáng lo ngại.Hai ba lần,nó phải
bưng tai,nhắm mắt,trong lòng hồi hộp mà chờ cái chết vì ngay trên đầu
nó thấy những cơn “ùng ục”dữ dội.Cũng may,những con ma chắc không
bay đến ẩn mình vào cây nhãn ấy (?)nên những tiếng sét “đoành đoành”
đi sau ngững giây chớp sáng quang đã tha cho nó,chỉ đánh xuống những
nơi ở tận đầu xa.
Nó cứ đứng thế,mặt đất sũng nước đã ngập cả một bên chân nó tưởng
chừng như mưa không bao giờ tạnh được.Nhưng độ một vài giờ sau thì
hết cơn mưa.
Hai Xuân bấy giờ đã nhọc lắm, đến chân tay cũng không buồn cử
động nữa.Rồi cái đói giúp cái nhọc nó chẳng còn bận tâm lo nghĩ chuyện
gì,nó đổi chỗ đứng,một tay vòng nạng,một tay kê sau gáy để đỡ lấy
đầu,nó cứ việc tựa lưng vào gốn nhãn,chống tay vào nạng gỗ mà đánh
một giấc ngủ rất say sưa,cái giác nguy hiểm của những nguời bụng đói
như cào,có khi ngủ không dậy nữa.
Nó cứ đứng thế mà ngủ được mãi đến khi trời tang tảng sáng;mãi đến
khi có một đàn kiến bị nước phá tổ nhung nhúc bò ra,một vài con đỏ như
lửa mà to như hột thóc bò lên bàn chân thịt của nó,cong đuôi đốt nó,nhoi
nhói như kim châm.Hai Xuân bấy giờ mới vùng thức dậy,dụi mắt,rũ kiến
rồi ngơ ngác nhìn cũng hơi ngạc nhiên vì mình đã ngủ,trời tuy đã sáng
nhưng chung quanh nó,nó chẳng nom được rỏ vật gì,nó chỉ thấy một
mầu trắng toát,một bức màn sương,nhưng vì nghĩ ngay đến chuyện về
nhà,nó cũng cầm lấy nạng.
Trên đường đê lầm lội mà trơn hơn rêu bám,thằng Hai lủi thủi chống
nạng về nhà, đi giữa cái “đám rước”những cốc và giun,những con nòng
nọc mới đứt đuôi lăn tăng nhảy trước mặt nó và những con giun đen xì
xì,to như cái đũa ngọ nguậy bò dọc bò ngang,vẽ trên đường đi những vết
dài dài.Thằng Hai cứ việc bước đi,lội lõm bõm mà đi.
Về đến gần nhà,nó dừng chân lại đứng ngẫm nghĩ.Chắc hẳn bây giờ
thể nào anh Cả nó cũng ra ga rồi,trời chưa sáng rõ là vì có sương,nó vào
bây giờ chỉ còn việc là lạy từ cha mẹ.Nó đến cửa,khẽ gõ mấy cái vào
phên thì cửa mở ngay.Mẹ nó có vẻ ngạc nhiên hỏi nó:
-Mày ngủ đâu về thế con?
-Dạ,tôi ngủ đằng nhà anh Xã.
-Thế à... Thế đã cơm nước rồi đấy chứ?
-Ðã,anh ấy gọi tôi đánh chén vì hôm qua,anh ấy phát tài to.
-Sao quần áo mày ướt đầm cả thế kia?
-Nhà giột
-Sao tối hôm qua mày không về?
-Có,tôi có về.Anh Cả nói với thày u những gì tôi đã biết hết...Tôi
thấy thế nên tôi lại đi...thế anh ấy đi làm chưa u?
-Nó đi rồi...vào,con...!
Theo sau tiếng thở dài của mẹ,nó bước chân vào, ố! này lại...bố nó
vẫn ngồi một chỗ như đêm hôm trước.
-Thầy đã dậy làm gì thế?
-Ðã ngủ đâu mà dậy? Đêm qua có ai ngủ đâu?
Rồi bố nó cũng thở dài như mẹ nó.Hai Xuân bấy giờ mới định nói
thật,có nói vì thấy ấp úng,khó khăn chẳng khác gì một đứa trẻ con bập
bẹ:
-Thầy u ạ,tối hôm qua,anh ấy nói với tôi những gì,tôi đã biết cả.Tôi
về bây giờ là để lấy mớ quần áo cũ và cái thẻ của tôi để tôi đi đây...tôi
phải đi chứ tôi ở nhà thế nào được?
Rồi nó đứng cúi mặt nhìn xuống đất,trong lòng thật đau đớn,cố cầm
lấy nước mắt lúc đó đã thấy chạy quanh.Mổi phút im lặng mà tưởng như
rất lâu,bố mẹ nó vẫn không đáp nó,nó chỉ nhận được hai tiếng thở dài áo
não vô cùng.Hai Xuân nói tiếp:
-Tôi cũng biết...thế này là phiền não cho thầy u lắm...thầy u chẳng
nỡ,thầy u vẫn có bụng thương tôi,nhưng khốn nổi là nếu ở nhà,tôi không
làm gì kiếm ăn được...Thầy u có nuôi được tôi đâu?tôi không đi cũng
không xong mà...!
Mẹ nó vẫn đứng ngây người như một khúc gỗ,nó phải giục:
-Kìa u! u lấy đi cho tôi... Để tôi đi cho sớm sủa.Tôi đi thế này tôi
cũng khổ lòng lắm,nhưng thôi,thầy u cũng chứ lo phiền,rồi dăm ba ngày
một lần,tôi sẽ về thăm thầy u,thầy u không sợ.
Mẹ nó bấy giờ đưa cho nó một gói nhỏ trong cái khăn bọc ngoài đã
bạc phơ,bảo nó:
-Cả mấy cái quần áo cũ và cái thẻ u gói kín trong này đây, đừng bỏ
mất đâu mà khốn.
Nó đỡ lấy gói,lần đến một góc nhà với một cái nón rách xuống, đội
vào đầu:
-Thôi,thầy u ở lại,tôi đi đây...tôi đi rồi tôi về luôn, đừng nói gì cho
anh ấy biết.
Ông cụ ấy vẫn không đáp nó,chỉ nằm xuống giường để tay lên
trán.Hai Xuân vừa bước chân ra khỏi nhà đã thấy bên trong bố khóc lên
hậm hực.Nó đau lòng quá đỗi,mẹ nó cũng theo nó bước ra,nắm chặt lấy
nó như chẳng nỡ dời tay.Nó giương to con mắt nhìn cái mặt răn reo, đau
đớn mà thân yêu ấy một lần cuối cùng,nhìn túp lều tranh âu sầu, ủ
dột,l&uc đó cũng đang thanh thót rỏ lụy,rồi khẻ bảo mẹ:
-U buông con ra buông con ra cho con đi...
Bà cụ đờ đẫn buông tay,ngơ ngẩn nhìn con,mi mắt và mồm như bị
một cái gân tai ác giật lấy giật để.Rồi bà cụ đưa ngang cánh tay lên
mặt.Hai Xuân tần ngần đứng đấy,trông mẹ khóc mà cảm động
quá,thương quá nhưng sau ý chừng cũng biết rằng đem nước mắt mà
chống với cuộc đời thật chẳng lợi gì,nó dằn lòng quay mình,mắt đăm
đăm nhìn xuống đất,mặt có vẻ dữ tợn đáng ghét,nó rảo cẳng bước
đi,bước thẳng đi một mạch.
Bà cụ mẹ nó,vẫn tay bưng lấy mặt,rung động hai vai,mãi đến lúc con
đã đi xa mới mỡ mắt ra nhìn.
-Hai ơi!... Ời Xuân ơi!...Xuân ơi...
Không biết bụng nghĩ ra sao mà bà cụ ấy gọi con rối rít,nhưng vì đã
đi xa lắm,nó không nghe tiếng,cứ việc cắm cổ mà đi.Rồi thấy bà cụ ấy
chạy theo con,vẫn ra sức gọi
Thương thay! mái tóc hoa râm đã điểm 60 tuổi trên đầu mà bà cụ ấy
vẫn chưa biết mình thân già tuổi yếu,ton ton chạy được vài mươi bước
thì chổ mặt đê trơn như đổ mỡ đã làm bà cụ té nhào lắm lét từ dầu đến
chân,nằm trong vũng nước đầy vừa run vừa khóc.Bà cụ ấy ngã đau, đau
lắm nhưng cũng cố gượng chống tay nghểng cổ mà nhìn,nhìn đến đứa
con thân yêu kia,nhìn đến thằng Hai lúc ấy chỉ còn như một cái chấm
trông thẳng về Cầu Sắt Hà nỘi mà đi,dần dần biến mình vào đám sương
mù...
Juillet 1931
VŨ TRỌNG PHỤNG
Một cái chết (1931)
Bẩy giờ tối.
Hai chúng tôi, cơm chiều xong, vừa định thắng bộ vào dạo chơi
loanh quanh mấy phố thì trời bỗng đổ cơn mưa như trút.
Phải bó cẳng ngồi nhà cặm cụi với mấy tờ báo, chúng tôi xem đã uể
oải, mắt đã thấy mờ thì cửa vẫn khép chặt, bỗng có người đẩy đánh xầm
một cái tung ra.
Giật mình, chúng tôi ngơ ngác nhìn lên thì một ông lão ăn mày vừa
lòa vừa cụt chân, người quắt như con mắm nướng, áo tơi, nón lá, chống
nạng lê vào.
- Lạy ông, lạy bà... Bố thí cho con đồng cơm bát cháo trong lúc khốn
cùng...
- Không sẵn! Đi đi!!! Cửa nhà người ta khép thế mà cũng đẩy ra
được...
Đã bực mình sẵn, lại thấy ông lão xông xáo quá đáng thế, tôi không
chút thương mà gắt rầm lên. Bạn tôi vội xua tay ngăn lại, đứng dậy, ra ân
cần để vào tay ông lão một xu. Ông lão cúi rạp xuống đất tạ ơn rồi lủi
thủi bước ra, để lại chỗ đứng một vũng nước dây ở cái áo tơi trút xuống.
Bạn tôi cài then cửa rồi vào:
- Không bao giờ tôi nỡ đuổi một người ăn mày như anh đã đuổi.
Tôi mỉm cười một cách nhạo báng. Bạn tôi xưa nay vẫn hay giảng
đạo đức, thuyết luân lý.
- Anh đừng tưởng chuyện đùa. Những chuyện rất thường mà đối với
người ngoài cuộc, lắm khi có ảnh hưởng lại rất sâu xa. Một người ăn
mày đến kè nhè bên ngoài. Người trong nhà chạy ra mắng đuổi hắt đi rồi
đóng cửa đánh xầm một tiếng. Tưởng chẳng có chuyện gì bình thường
hơn thế nữa. Thế mà cũng chỉ vì một chuyện đuổi ăn mày mà chính tôi
đây, tôi đã được mục kích một tấn kịch rất đỗi bi thương.
Nói đến đó, bạn tôi ngồi xuống ghế, vớ lấy bao thuốc lá lấy ra một
điếu đánh...
 





